Những di sản thế giới của Bulgaria

Nhiều thế kỷ qua, Bankal đã là nơi hội tụ các nền văn hóa và lịch sử. Những người Thracia, Hy Lạp, Lamã, Slavo và Ottoman cổ đã để lại những di sản lịch sử và văn hóa mà có lẽ không ở nơi đâu chúng được cảm nhận rõ ràng hơn ở Bulgaria.

Tính đến năm 2019 ở Bulgaria có 10 địa danh được UNESCO đưa vào danh sách Di sản Thế giới, bao gồm 7 địa danh văn hóa và 3 địa danh thiên nhiên.

1. Kỵ sĩ Madara ở Shumen – năm 1979
2. Hầm mộ của người Thrace ở Kazanlak – năm 1979
3. Nhà thờ Boyana gần Sofia – năm 1979
4. Các tu viện đục trong đá ở Ivanovo – năm 1979
5. Thành phố cổ Nessebar – năm 1983
6. Tu viện Rila – năm 1983
7. Lăng mộ Thracia ở Sveshtari – năm 1985
8. Vườn dự trữ sinh quyển Srebarna – năm 1983
9. Vườn quốc gia Pirin – năm 1983
10. Rừng sồi nguyên sinh ở Vườn quốc gia Trung Balkan: một trong những khu rừng sồi có giá trị nhất châu Âu – năm 2017.

Các di sản văn hóa phi vật thể là:

1. “Bistritsa Grannies” – ban ca “Các cụ bà làng Bistritsa” – năm 2008
2. Nestinarstvo – Nghi lễ nhảy chân trần trên than hồng – năm 2009
3. Truyền thống sản xuất thảm “Chiprovtsi” – năm 2014
4. Nghi thức “Surva” ở Pernik – năm 2015
5. Lễ hội văn hóa dân gian Koprivshtitsa – năm 2016
6. Martenitsa – năm 2017

1.  Kỵ sĩ Madara (Мадарски конник)

Nằm gần làng Madara, phía đông tỉnh Shumen thuộc vùng Đông Bắc Bulgaria, tượng Kỵ sĩ Madara là một trong những tác phẩm nghệ thuật kỳ vĩ nhất của thời Trung cổ Châu Âu còn được lưu giữ đến nay.

Đó là một hình khắc nổi cao 23 mét so với mặt đất trên vách một khối đá lớn hầu như thẳng đứng cao 100 mét.

Trên đó khắc hình nổi cao 2,6 mét và rộng 3,1 m mô tả một kỵ sĩ oai vệ, một con sư tử, một con chó, chim ưng và những chữ khắc Hy Lạp. Chân dung kỵ sĩ to bằng người thật đang ngồi trên lưng ngựa, áo khoác dài đến đầu gối, mặt quay sang phải, tay trái nắm dây cương ngựa, tay phải đâm lao vào con sư tử đang nằm dưới chân ngựa. Một con chim đại bàng bay trước mặt kỵ sĩ và một con chó chạy sau. Cảnh này mô tả cách tượng trưng một chiến thắng quân sự.

Theo truyền thuyết bức phù điêu miêu tả Hãn (Khan) Tervel như người chiến thắng. Một trong những chữ khắc nhắc đến các sự kiện năm 705. Vào thời gian đó, Hoàng đế Byzantine (Hy Lạp) Justinian bị buộc phải từ bỏ ngai vàng của mình và đang sống lưu vong. Ông trốn thoát và cầu cứu Bulgaria giúp đỡ. Khan Tervel cùng với quân đội của mình đã giúp ông lấy lại ngai vàng. Đổi lại Khan của Bulgaria nhận được nhiều quà tặng và được công nhận chức danh Kesar – tức là vua. Bulgaria cũng được nhận lại phần lãnh thổ tại các vùng đất phía nam dãy núi Balkan, ngoài ra Byzantine còn có nghĩa vụ phải nộp thuế hàng năm.

Ky quan tuong ky si ky vi nhat thoi Trung co-Hinh-2

Một giả thuyết khác cho rằng đây là hình khắc một vị thần của người Thracians thời cổ.

Công trình này được cho là được khắc bởi người Bulgars, một bộ tộc chiến binh du mục cư ngụ ở vùng đông bắc Bulgaria vào cuối thế kỷ thứ 7 – và sau khi hợp nhất với người Slavs địa phương – đã tạo ra nguồn gốc người Bulgaria hiện nay.

Đây là một công trình cổ hiếm có, xuất hiện từ thế kỷ thứ 8 đến thứ 9 sau Công Nguyên. Công trình này đã được UNESCO đưa vào danh sách Di sản thế giới năm 1979.

2. Quần thể tu viện đá Ivanovo (Ивановски скални манастири)

Trong thung lũng sông Rusenski Lom, đông bắc Bulgaria, gần làng Ivanovo, một quần thể nhà thờ, nhà nguyện, tu viện được chạm khắc trong đá đã phát triển trong nhiều thế kỷ. Đây là những Nhà thờ Đá Ivanovo – được ghi vào Danh sách Di sản Thế giới của UNESCO năm 1979.

Các nhà thờ đá Ivanovo (Tên chính thống: Thánh Michael tổng lãnh thiên thần) nằm cách thành phố Ruse 22 km về phía nam và là một mạng lưới gồm khoảng 20 nhà thờ đá nhỏ, nhà nguyện và phòng tu, được chạm khắc ở các độ cao khác nhau trong núi đá của hẻm núi đẹp như tranh vẽ của sông Lom, nối với đường đi và các bậc thang đá.

Các hang động là nơi các nhà sư sinh sống từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 17 (một số trong những hang động phổ biến nhất và được bảo tồn là Nhà nguyện Gospodev Dol và Nhà thờ Buried-Under). Họ quan niệm rằng : làm như vậy nhằm phấn đấu để được gần gũi với Chúa hơn, các tu sĩ ẩn sĩ bắt đầu định cư ở đây vào thế kỷ 13, đục các hốc đá đẽo gọt thành nhà thờ và nhà nguyện ở trong hang đá.

Trong thời kỳ đỉnh cao của khu quần thể tôn giáo này  có khoảng 40 nhà thờ đá, trong khi các tu viện đẽo vào đá của các nhà sư – khoảng 300 cái. Các tu sĩ sinh sống ở đó và các giáo dân đến đó cầu nguyện. Các vị vua và lãnh chúa Bulgaria thời kỳ Công quốc Bulgaria thứ hai (thế kỷ XII-XIV) đã cử những người thợ đá để khắc đục những ngôi đền mới vào đá và các họa sĩ tô vẽ chúng với những hình ảnh kinh thánh.

Tu viện Ivanovo có giá trị văn hóa và lịch sử vô song của nó chủ yếu là do các bức tranh tường có niên đại từ thế kỷ 13 và 14 và được bảo tồn trong sáu nhà thờ đá. Các nghệ sĩ đã mang hết tài năng, sức lực vào những bức bích họa hiện thực, tinh tế về màu sắc và bố cục, và biến chúng thành một kho báu thực sự của kho tàng các bức tranh thời trung cổ của Bulgaria. Các bức tranh tường có rất nhiều động thái biểu cảm với các họa tiết cổ điển – tượng nữ khỏa thân được sử dụng cho đạo cụ, cột trên sư tử, mặt nạ v.v… Trong số đó có dòng chữ khắc của Ivo Grammatik từ cuối thế kỷ 13.

Nhà thờ chính của quần thể đền thờ “Đức mẹ Thiên Chúa” được đục trên độ cao 38 mét và được sơn vẽ hoàn toàn bên trong với những cảnh và hình ảnh trong Kinh thánh và Phúc âm. Chúng bao gồm Bữa ăn tối cuối cùng, Tiến vào Jerusalem, St. John the Baptist với những cảnh đời, Passions of Christ, hình ảnh của các Tông đồ và các vị thánh khác. Những bức tranh tường nổi tiếng thế giới vào giữa thế kỷ 14 là một trong những đỉnh cao sự phát triển của nghệ thuật Bulgaria và Balkan thời trung cổ.

Phần lớn các nhà thờ đá Ivanovo bị mưa, động đất, băng đá và mặt trời phá huỷ. Tên của những nhà thờ sống sót đã bị lãng quên trong nhiều thế kỷ và người dân địa phương gọi chúng bằng những tên khác nhau: “Gospodev Dol – Lord Down” bởi vì qua lối mở của nhà thờ có thể thấy hình ảnh của Chúa Jesus, khu vực “Letters” – vì các dấu hiệu và chữ khắc được bảo tồn; một trong những nhà thờ được gọi là “Saborenata – Bị phá hỏng” và có cái chỉ đơn giản gọi là “Nhà thờ”.

Trong số các nhà thờ vẫn còn được bảo tồn Gospodev là nơi có nhiều nhất các bức tranh treo tường, trong đó các nhà sư giữ bí mật về những lời thú tội say đắm, được khắc trên tường. Từ một trong những bức tranh tường này, người ta biết rằng Sa hoàng Ivan Terter (1279-1292) đã dành phần cuối cuộc đời mình ở đây và được chôn cất trong tu viện.

Một nhà thờ ấn tượng khác, gọi là Nhà thờ Buried-Under, được tìm thấy ở khu vực Letters. Mặc dù bị các hiện tượng thiên nhiên phá huỷ, các bức bích họa của nhà thờ này vẫn có chất lượng cao. Một trong những nhà tài trợ của nhà thờ là Sa hoàng Ivan Assen II, người rất thích đến thăm nơi này và dành những giây phút quý giá của sự cô độc. Điều này được chứng minh bằng bức chân dung của Sa hoàng, được tìm thấy trong Nhà thờ Buried-Under, trên đó ông giữ một bản sao mô hình của nhà thờ – một đặc điểm tiêu biểu của chân dung nhà thờ.

Chân dung của Sa hoàng Ivan Alexander

Nhà thờ đáng chú ý thứ ba, được người dân địa phương gọi đơn giản là Nhà thờ Tôn giáo được cho là do Sa hoàng Ivan Alexander (1331-1371) thành lập. Nó cũng có những bức bích họa có giá trị mô tả những cảnh trong Kinh thánh theo phong cách được sửa đổi tại địa phương của Hoàng đế Justinian. Thật không may, các vật có giá trị trong tu viện vẫn còn là đối tượng của các cuộc săn lùng kho báu.

Năm 1979, UNESCO đã công nhận quần thể các công trình tôn giáo này là di sản thế giới.

3. Hầm mộ của người Thrace ở Kazanlak (Тракийска гробница в Казанлък)

Lăng mộ của người Thrace ở Kazanlak là một ngôi mộ mái vòm, xây bằng gạch tổ ong và là một phần thuộc nghĩa trang rộng của người Thrace gần Seuthopolis, thủ đô cũ của người Thrace, nay gần thành phố Kazanlak, tỉnh Stara Zagora, miền trung Bulgaria.

Lăng mộ của vị vua Thrace được phát hiện tình cờ vào năm 1944 bởi những người lính đào công sự ở phía đông bắc của Kazanlak.

Ngôi mộ nổi tiếng thế giới nhờ những bức tranh tường độc đáo trong hành lang và phòng mái vòm – những bức bích họa được bảo quản tốt nhất của tranh vẽ cổ xưa từ kỷ nguyên Hy Lạp.

Ngôi mộ này gồm có 1 hành lang hẹp và 1 phòng mộ hình tròn. Cả hành lang và phòng mộ đều có tranh tường mô tả 1 cặp vợ chồng người Thrace trong buổi tang lễ.

Trên bức tranh tường mô tả các con ngựa rất đẹp và đặc biệt cảnh 2 vợ chồng ngồi trên lưng ngựa sắp phải chia tay, họ đang nắm chặt cổ tay nhau trong giây phút âu yếm nhất.

Một họa sĩ vô danh đã vẽ tranh với 4 màu khác nhau: đen, đỏ, vàng và trắng. Bức tranh này là một tuyệt tác nghệ thuật của Bulgaria từ thời Hy lạp cổ còn được bảo quản tốt. Ngôi mộ được xây vào khoảng cuối thế kỷ thứ 4 đến đầu thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên.

Việc tham quan ngôi mộ nguyên gốc bị hạn chế nghiêm ngặt để bảo toàn các bức tranh tường. Du khách có thể đến thăm bản sao của ngôi mộ cùng các bức tranh được xây dựng gần đó.

Năm 1979, UNESCO đã công nhận Mộ vua Thrace ở Kazanlak là di sản thế giới.

4. Tu viện Rila (Рилски манастир) 

Nằm ở một sườn dốc hoang vu ở độ cao 1147m trên dãy núi Rila ở miền Tây Bulgaria, tu viện Rila là một công trình cổ xưa có vai trò đặc biệt quan trọng trong lịch sử đất nước. Đây là trung tâm tôn giáo lớn nhất trong cả nước.

Đây là một tu viện Chính thống giáo được xây dựng vào thế kỷ thứ 10, tương truyền do Thánh Ivan Rilski lập nên dưới thời Sa hoàng Peter I (927-968). Trong thực tế, ông đi tu trong một hang động không xa tu viện, còn khu quần thể tu viện do các đệ tử của ông xây dựng, những người này vẫn thường đến thăm ông ở trong núi và nghe giảng giáo lý.

Khoảng năm 1335, lãnh chúa địa phương Stefan Dragolov (Hrelyo) xây một tu viện tại chính chỗ hiện tại bao gồm khu nhà ở, tháp canh, nhà thờ gian giữa.

Trong số các công trình này hiện nay chỉ còn lại duy nhất tháp canh, đặt tên là “Tháp Hrelyo”.

Ở tầng dưới cùng của tháp có một nhà nguyện nhỏ, được trang trí với các bức tranh tường có giá trị nghệ thuật cao.

Kham pha tu vien co huyen thoai cua dat nuoc Bulgaria-Hinh-8

Vào đầu những năm 1800, khi đất nước Bulgaria bắt đầu bước vào cuộc chiến giành độc lập từ tay quân xâm lược Thổ, tu viện Rila trở thành trung tâm biểu trưng cho sự thức tỉnh mãnh liệt tinh thần dân tộc, văn hóa và chính trị của đất nước này.

Kham pha tu vien co huyen thoai cua dat nuoc Bulgaria-Hinh-3

Tu viện đã trở thành một “ốc đảo tự do”, và người ta phải xây thêm ba khu nhà cạnh tu viện để làm chỗ ở cho các tu sĩ, người hành hương và người dân từ mọi miền đất nước đổ về đây.

Kham pha tu vien co huyen thoai cua dat nuoc Bulgaria-Hinh-6

Họ làm việc hết sức hăng say và chỉ trong một năm sau, tu viện Rila mới hoàn thành. Toàn bộ quần thể chiếm diện tích 8.800 mét vuông và có dạng hình chữ nhật, tập trung ở sân trong (3.200 mét vuông), nơi đặt tháp và nhà thờ chính.

Kham pha tu vien co huyen thoai cua dat nuoc Bulgaria

Tu viện nằm trong một khuôn viên hình vuông, đầy vẻ uy nghi với mái đỏ vươn cao trên vùng rừng núi rậm rạp. Các bức tường đồ sộ phía ngoài được thiết kế để chống giặc cướp, có chỗ cao tới 50 mét.

Nhà thờ chính của tu viện được xây dựng vào giữa thế kỷ 19. Nhà thờ có năm mái vòm, ba bàn thờ và hai nhà nguyện phụ. Các mái vòm được xây dựng nối kết với nhau bằng những đường hoa văn sọc trắng đỏ.

Kham pha tu vien co huyen thoai cua dat nuoc Bulgaria-Hinh-9

Các trần gỗ được chạm khắc và các bức tranh tường nghệ thuật tinh vi được trang hoàng cho các buồng khách, có thể chứa tới 250 người và một số phòng nhỏ hơn cho các tu sĩ.

Kham pha tu vien co huyen thoai cua dat nuoc Bulgaria-Hinh-7

Khu dân cư bốn tầng (không tính tầng hầm) của khu phức hợp bao gồm 300 phòng, bốn nhà nguyện, phòng của một vị trụ trì, một nhà bếp, một thư viện chứa 250 bản thảo và 9.000 bản in cũ, và phòng của nhà tài trợ. Bề ngoài của khu phức hợp, với những bức tường đá cao và cửa sổ nhỏ, giống như một pháo đài hơn là một tu viện.

Kham pha tu vien co huyen thoai cua dat nuoc Bulgaria-Hinh-10

Bên cạnh lịch sử hào hùng, tu viện còn được biết đến với bộ sưu tập nghệ thuật và thư tịch phong phú.

Bảo tàng của Tu viện Rila đặc biệt nổi tiếng với nhà ở Chữ thập của Rafail, một cây thánh giá bằng gỗ được làm từ toàn bộ một miếng gỗ (81 × 43 cm). Nó đã được một nhà sư tên là Rafail đánh bóng bằng cách sử dụng các vật thể tinh xảo và ống kính phóng đại để tái tạo 104 cảnh tôn giáo và 650 nhân vật thu nhỏ. Công việc trên tác phẩm nghệ thuật này kéo dài không dưới 12 năm trước khi nó được hoàn thành vào năm 1802, khi nhà sư bị mất thị lực.

Kham pha tu vien co huyen thoai cua dat nuoc Bulgaria-Hinh-12

Bị phá hủy trong thế kỷ 19, khu tu viện đã được xây dựng lại trong thời kỳ 1834-1862.

Năm 1961 tu viện được chuyển thành Bảo tàng quốc gia và năm 1983 được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.

5.  Nhà thờ Boyana (Боянска църква)

Nằm dưới chân núi Vitosha ở vùng ngoại ô của thủ đô Sofia, cách trung tâm thành phố 8km, nhà thờ cổ Boyana có quy mô không lớn nhưng được cả thế giới biết đến nhờ những giá trị kiến trúc – mỹ thuật độc nhất vô nhị, là một trong những di tích được bảo quản nguyên vẹn và hoàn chỉnh nhất của nền nghệ thuật Đông Âu thời trung cổ.

Nhà thờ này cũng là một ví dụ điển hình cho kiến trúc nhà thờ được xây dựng theo phong cách Hy Lạp Trung cổ với mái vòm, mặt tiền trang trí lộng lẫy bằng gốm và một cây thánh giá ở tiền sảnh.

Ở ngay dưới chân núi Vitosha, chìm giữa các cây cổ thụ tán lá xanh tươi tốt, nhà thờ bao gồm ba tòa nhà. Mặc dù gồm ba khối nhà, được xây dựng trong một khoảng thời gian dài khác nhau song vẫn tạo thành một tổng thể đồng nhất.

Tòa nhà nhỏ phía đông được xây dựng đầu tiên vào thế kỷ thứ 10.

Sau đó vào đầu thế kỷ 13 theo ý nguyện của Kaloyan, người cai quản Sredets (tên của Sofia thời trung cổ), nhà thờ cũ đã được mở rộng, xây thêm một nhà thờ hai tầng mới. Tòa nhà cao hai tầng này là một lăng – thờ, tầng trệt là khu lăng mộ, kho, tầng trên là nhà nguyện có cấu trúc xây dựng tương tự như khối nhà phía đông.

Quần thể này được hoàn thành khi một nhà thờ thứ ba được xây dựng vào đầu thế kỷ 19. Khối nhà thờ thứ ba cao hai tầng, tiếp nối với tòa nhà thứ hai.

Tuy nhiên, nét đặc sắc nhất của nhà thờ Boyana là toàn bộ bề mặt bên trong của các bức tường và mái vòm được bao phủ bởi những bức tranh bích họa. Đây là những tác phẩm hội họa quan trọng bậc nhất thời thời Trung cổ được lưu giữ tới nay.

Theo thống kê, có tổng cộng có 89 khung cảnh với 240 hình ảnh con người được được miêu tả với cá tính và tâm lý nổi trội, đầy sức sống trên các bức tường của nhà thờ.

Những bức tranh có giá trị nghệ thuật nổi bật nhất là những bức chân dung có từ thế kỷ thứ 13. Những bức tranh này thể hiện sự biểu cảm tinh thần đặc biệt, được phối màu hài hòa. Có nhiều bức được vẽ chồng lên các bức họa vẽ trong giai đoạn trước. Nội dung các bức họa miêu tả sự tích các thánh và một số cảnh sinh hoạt thế tục thời bấy giờ, được cho là thành tựu đặc biệt của văn hóa và hội họa của Bulgaria thời Trung cổ.

Để đảm bảo tính toàn vẹn của nhà thờ Boyana, năm 1917 một công viên đã được tạo ra để bảo vệ môi trường xung quanh nhà thờ và đảm bảo cho sự lưu thông của các phương tiện giao thông hiện đại.

Năm 1977 di tích đóng cửa để thực hiện bảo tồn và phục hồi trong 20 năm. Vào đầu năm 2006, UNESCO đã đóng góp 25.000 USD để sửa chữa khẩn cấp nhà thờ do bị ảnh hưởng bởi lũ lụt trong năm 2005 và lắp điều hòa không khí. Sau đó đến Quỹ “Eterna” phát động chiến dịch quyên tiền cho việc khôi phục toàn bộ nhà thờ và các bức tranh tường ở phía đông. Khoảng 50 công ty, hiệp hội và cá nhân đã hưởng ứng. Trong vài tháng nhóm nghiên cứu do Giáo sư Grigor Grigorov và Vladimir Tsvetkov đã hoàn thành công tác phục hồi nhà thờ Boyana gần giống nhất với hình thức kiến trúc ban đầu, với các đồ trang trí nghệ thuật đặc trưng của Bulgaria.

Ngày 4/12/2006 nhà thờ Boyana lại được mở cửa đón du khách. Với những giá trị lịch sử, kiến trúc, nghệ thuật độc đáo, nhà thờ Boyana thu hút du khách từ khắp mọi nơi đến thăm quan mỗi khi ghé thăm Bulgaria.

Nhà thờ Boyana hiện thuộc Bảo tàng lịch sử Quốc gia Bulgaria. Tại đây luôn duy trì nhiệt độ không khí ở mức 17-18 độ C với ánh sáng nhiệt thấp. Du khách chỉ được phép ở lại trong vòng 15 phút mỗi đợt.

Năm 1979 UNESCO đưa nhà thờ Boyana vào danh sách Di sản thế giới.

6. Thành phố cổ Nessebar (Несебър – стария град)

Thành phố cổ với lịch sử ngàn năm Nesebar được xây dựng trên một bán đảo đá nhỏ trên biển Đen nối với đất liền bằng một dải đất hẹp. Đó là một trong những thị trấn lâu đời nhất ở châu Âu và giàu di tích kiến trúc từ thời Trung cổ nhất ở Bulgaria.

Thành phố cổ trông giống như một tòa lâu đài trên đảo được xây từ thời Thrace với những công trình kiến trúc phòng thủ, tòa nhà biệt lập chen lẫn những ngôi chùa thời Trung cổ và lâu đài thời kỳ Phục hưng tạo thành một không gian huyền bí…

Các di tích lịch sử có giá trị từ tất cả các thời đại được bảo tồn ở đây: những bức tường pháo đài từ thời La Mã và thời Trung cổ, nhà thờ Byzantine và Bulgaria cũ, những ngôi nhà từ thế kỷ 18 và 19. Giá trị lịch sử lớn nhất của Nessebar là nhiều nhà thờ.

Trong khu vực cổ của thành phố có khoảng 42 nhà thờ, ít hơn một nửa trong số đó đã được các nhà khảo cổ phát hiện và bảo tồn, trong khi chỉ có một nhà thờ hiện đang hoạt động là nhà thờ “Christ Pantocrator”.

Nhà thờ chính của Nessebar là Nhà thờ Saint Sophia. Là một phế tích ngoài trời, Nhà thờ Saint Sophia có thể là ấn tượng nhất. Nằm ở trung tâm của khu phố cổ, nhà thờ có từ thời Byzantine đầu tiên, được xây dựng từ cuối thế kỷ thứ 5 đến đầu thế kỷ thứ 6, mặc dù hình dạng hiện tại bắt đầu từ đầu thế kỷ thứ 9. Nó có những bức tường bích họa và sàn khảm nhiều màu. Các trụ cột thực sự cung cấp cho bạn một ý tưởng về những gì các vương cung thánh đường phải có được như ngày trước. Nó được công nhận là di tích kiến trúc và văn hóa quốc gia vào năm 1964.

Có hai cối xay gió còn lại từ thời cai trị của Thổ Nhĩ Kỳ, một cái nằm ở ngay đường vào phía bắc khu nghỉ mát bên cạnh tàn tích Vương cung thánh đường từ thế kỷ thứ 6. Cối xay gió thứ hai nằm trong số các tòa nhà của một trong những khách sạn nghỉ dưỡng hiện đại.

Phố cổ chỉ dài 850 mét và rộng 350 mét. Trong thời gian tồn tại, thành phố đã mất khoảng 1/3 lãnh thổ bị cuốn trôi khỏi biển.

Ngày nay, khu phố cổ là một nơi hấp dẫn cho những chuyến đi lãng mạn dọc theo những con đường lát đá cuội hẹp, qua các cửa hàng nhỏ cung cấp đồ lưu niệm thủ công – đồ gốm, đồ đan và trang sức.

Các phế tích của bức tường thành cổ với một cửa từ thế kỷ III-IV, các nhà thờ từ thế kỷ V-VI và muộn hơn nữa từ thời trung cổ (thế kỷ X-XIV), thể hiện rõ kiến trúc Bulgari-Byzantine thời Trung cổ và khoảng 60 căn nhà thời Phục hưng, tạo cho thành phố dáng vẻ độc đáo và bầu không khí đặc biệt.

Nơi đây nhanh chóng trở thành khu du lịch nổi tiếng, thu hút khách tham quan đến để tìm hiểu về những nền văn minh nay đã mất.

Nessebar là một kho báu lịch sử của Bulgaria. Năm 1956 thành phố được công nhận là khu bảo tồn kiến trúc và khảo cổ.

Nesebar được ghi vào danh sách di sản văn hóa thế giới năm 1983.

7. Ngôi mộ cổ Sveshtari (Свещарската гробница)

Ngôi mộ Sveshtari nằm ở phía đông bắc Bulgaria, cách làng Sveshtari (Razgrad) 2,5 km về phía tây nam. Được phát hiện vào năm 1982 trong lúc khai quật gò cao Glinina gần làng.

Cùng với hai ngôi mộ giống nhau khác nhỏ hơn, nó tạo thành một quần thể kiến trúc thống nhất. Thời gian xây dựng ngôi mộ này trùng với thời kỳ thịnh vượng về chính trị, kinh tế và văn hóa của các bộ tộc Thracia – Getae.

Đây là một ngôi mộ hoàng gia, có lẽ là nơi chôn cất của vua Drumihed. Đồ trang trí sang trọng và kiến trúc hoàn chỉnh của ngôi mộ chứng tỏ quyền lực chính trị của người cầm quyền.

Ngôi mộ được xây trên các khối đá vôi mềm cắt mịn. Có chiều dài 7,50 m, chiều rộng tại mặt tiền – 6,50 m và chiều cao căn phòng – 4,45 m.

Ngôi mộ bao gồm một hành lang (dromos) và ba phòng hình vuông phủ mái vòm hình bán trụ – một phòng chờ, một phòng bên và phòng chôn cất.

Lối vào được trang trí với các trụ cột, phía trên là tấm phù điêu khắc nổi hình cách điệu đầu bò, hoa hồng và vòng hoa. Trên khung cột khắc trang trí hình 10 thiếu nữ giơ cao cánh tay xin cứu rỗi.

Trong gian phòng giữa trên tường phía trên quan tài vẽ bức tranh diễn tả sự sùng bái của vua. Ở trung tâm là nữ thần đang đội vương miện bằng vàng cho ông, được vẽ như là một kỵ sĩ. Ở hai bên là đoàn rước với những người hầu và binh sĩ mặc giáp trên tay mang nhiều quà tặng. Bức vẽ này về cấu trúc và ý tưởng rất giống với bức phù điêu lớn ở Ngôi mộ Kazanlak.

Ngoài của cải trong mộ còn có xương của năm con ngựa được chôn ở đây để đi cùng ông chủ sang thế giới bên kia. Trong gian phòng giữa tìm thấy hai chiếc giường bằng đá, xương người và đồ tặng đám tang.

Các bức tường mộ có hình dạng giống như cột tiếp giáp với tường, phía dưới vòm là 10 phụ nữ (caryatids) cao khoảng 1,20m giơ tay đỡ. Những phụ này mặc áo dài hở vai, ngực quấn một vành đai, cuối áo gấp nếp hình dạng như đài hoa. Họ đều có mái tóc xoăn dài đến vai, đầu đội giỏ kalatos. Trước kia các bức tượng được sơn màu nhưng nay chỉ còn thấy được 1 phần màu nâu. Nhìn vào các bức tượng caryatids và các hình vẽ dưới vòm có thể biết rằng các nhà điêu khắc và họa sĩ chưa hoàn thành công việc của họ. Một số chi tiết cho thấy người được dự định chôn trong mộ đã qua đời đột ngột. Các cánh tay được đẽo gọt thô sơ, hình vẽ mới chỉ được phác họa bằng bút chì đen.

Ngôi mộ được khai quật tại Sveshtari không phải là duy nhất, trong khoảng 2 km còn giữ được 26 ngôi mộ với các kích cỡ khác nhau. Toàn bộ khu vực đã được công bố là khu bảo tồn khảo cổ.

Ngôi mộ Sveshtari được đưa vào Danh sách Di sản Thế giới của UNESCO năm 1985.

8. Khu bảo tồn thiên nhiên Srebarna (Природен Резерват Сребърна)

Khu bảo tồn thiên nhiên Srebarna (Природен резерват Сребърна, Priroden rezervat Srebarna) là khu bảo tồn động và thực vật nằm ở phía đông bắc Bulgaria (Nam Dobruja), gần làng Srebarna, cách tỉnh Silistra 18 km về phía tây và cách sông Danube 2 km về phía nam.

Khu bảo tồn này gồm một hồ nước ngọt Srebarna rộng hơn 600 ha và vùng đệm quanh hồ khoảng 540 ha. Độ sâu đáy hồ từ 1 đến 3 mét.


Khu bảo tồn nằm trên đường Via Pontica (đường thời La mã cổ) là chặng đường di cư chủ yếu giữa Châu Âu và Châu Phi của gần 100 loài chim trong đó có nhiều loài quí hiếm hoặc có nguy cơ tuyệt chủng như bồ nông lông xoăn, cò trắng, cò đêm, cò tía, cò quăm lấp lánh, một loại chim trắng.


Ở đây có một bảo tàng trưng bày hiện vật nhồi các loài động vật của khu bảo tồn.

Gần hồ còn xây một số tuyến sinh thái có các trạm quan sát.

Khu vực này được công bố là khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia năm 1948  và là khu thuộc Công ước Ramsar từ năm 1975. Năm 1977 được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển của UNESCO, và năm 1983 lọt vào danh sách di sản thiên nhiên thế giới của UNESCO.

9. Vườn quốc gia Pirin “Национален Парк Пирин”  

Pirin là ngọn núi cao thứ hai ở Bulgaria, nằm ở tây nam đất nước. Trên  diện tích hơn 42.000 ha của dãy núi năm 1962 đã thành lập công viên quốc gia – một trong những khu bảo tồn lớn nhất trong nước và là một trong ba công viên quốc gia tại Bulgaria (hai công viên quốc gia khác là Rila và Trung Balkan). Đây là phần đẹp nhất, hùng vĩ nhất và được ghé thăm nhiều nhất của Pirin.

Trải rộng trên diện tích 27.400 ha, nằm ở độ cao 1,008-2,914 m trên núi Pirin, Vườn quốc gia Pirin có một cảnh quan đa dạng và độc đáo có giá trị thẩm mỹ tuyệt vời với dãy núi đá vôi Balkan, với hồ, thác nước, hang động và rừng thông.

Những dãy núi gồ ghề, với gần 70 hồ đóng băng nằm rải rác trong đó, là nhà của hàng trăm loài động thực vật đặc hữu và quý hiếm.

Baykusheva mura là cây lá kim lâu đời nhất ở Bulgaria hơn 1300 năm. Cây nằm trong công viên quốc gia Pirin, ở chân phía đông của đỉnh Vihren, phía tây nam thị trấn Bansko.

Baykusheva mura là một mẫu vật quý hiếm và cực kỳ quý giá của giống linh chi Pinum leucodermis của cây linh sam trắng. Giống này chỉ mọc ở vùng núi trên Balkan và Nam Italia.

Vòng rộng của cây Baykusheva là 7,8m, và chiều cao là 22 m. Cây được đặt theo tên của nhà khoa học nổi tiếng người Bulgaria, ông Wesadin Baykushev, người đã phát hiện và mô tả mẫu vật này. 

Hai khu bảo tồn thiên nhiên nằm trong ranh giới của Vườn là Bayuvi Dupki-Dzhindzhiritsa, 1 trong các khu bảo tồn lâu đời nhất của Bulgaria, và Yulen.

Theo dòng lịch sử, ranh giới và diện tích Vườn đã thay đổi nhiều lần. Ban đầu là Vườn quốc gia Vihren được thành lập ngày 8.11.1962 với mục đích bảo tồn rừng ở phần cao nhất của núi. Vườn đó có diện tích 62 km2, chỉ là 1 phần nhỏ của diện tích Vườn hiện nay.

Vihren là đỉnh núi cao nhất ở Pirin. Đạt tới độ cao 2.914 mét (9.560 ft), đây là đỉnh núi cao thứ hai của Bulgaria và cao thứ ba của Balkan, sau Musala và đỉnh Olympus.

Di sản thế giới UNESCO Công viên quốc gia Pirin ban đầu được gọi là Vườn quốc gia Vihren. Vihren được bao gồm trong 100 địa điểm du lịch của Bulgaria.

Năm 1974, vườn được đặt tên lại là “Vườn nhân dân Pirin” và diện tích được mở rộng đáng kể. Một Ban quản lý riêng của Vườn được thành lập năm 1979, đặt trụ sở ở Bansko.

Vườn Pirin được UNESCO đưa vào Danh sách di sản thế giới năm 1983.

* Rừng sồi nguyên sinh ở Vườn Quốc gia Trung Balkan (Национален Парк Централен Балкан):

Một trong những khu rừng sồi có giá trị nhất châu Âu được đưa vào danh sách Di sản thế giới của UNESCO năm 2017.

Vườn quốc gia Trung Balkan (tiếng Bulgaria: Национален парк Централен Балкан) nằm ở trung tâm của Bulgaria, nép mình trong các phần trung tâm và núi cao của dãy núi Balkan. Độ cao của nó thay đổi từ 550 mét gần thị trấn Karlovo đến 2376 mét tại đỉnh Botev, cũng là đỉnh cao nhất trong dãy núi.

Được thành lập vào ngày 31/10/1991, vườn quốc gia là khu vực được bảo vệ lớn thứ ba ở Bulgaria, trải rộng trên diện tích 716,69 km², với chiều dài 85 km từ phía tây sang đông và rộng trung bình là 10 km.

Về mặt hành chính, vườn quốc gia nằm tại 5 trên 28 tỉnh của Bulgaria bao gồm Lovech, Gabrovo, Sofia, Plovdiv và Stara Zagora. Vườn quốc gia bao gồm 9 khu bảo tồn thiên nhiên, chiếm 28% diện tích của nó là Boatin, Tsarichina, Kozya Stena, Steneto, Severen Dzhendem, Peeshti Skali, Sokolna, Dzhendema và Stara Reka.

Vườn quốc gia Trung Balkan là một trong những khu vực được bảo tồn lớn nhất và có giá trị nhất ở châu Âu. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đã liệt kê là vườn quốc gia Loại II. Trung Balkan và tám trong số chín khu bảo tồn thiên nhiên nằm trong danh sách khu bảo tồn đại diện của Liên Hợp Quốc. Bốn trong số các khu bảo tồn là Khu dự trữ sinh quyển thế giới của UNESCO. Vườn quốc gia là thành viên đầy đủ của PAN Parks và Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF). Từ năm 2017, các khu rừng sồi cổ thụ ở tất cả chín khu bảo tồn thiên nhiên của vườn quốc gia được thêm vào Danh sách Di sản thế giới như là một phần của Các khu rừng sồi nguyên sinh trên dãy Carpath và các khu vực khác của châu Âu trải dài qua 12 quốc gia của châu Âu.

<!–
Lên đầu trang
–>

7 Comments (+add yours?)

  1. lethinhuxuan-1970-1976
    May 28, 2011 @ 02:44:42

    oi vay ma khong biet tôi da di duoc het nhung noi nay trong 6 nam hoc o Bulgarie chua co chu, that la dang tiec

    Reply

  2. Khoi Nguyen Duy
    Sep 24, 2011 @ 14:55:33

    Tôi ngạc nhiên về website Đoàn 1976 có 63 lá cờ các quốc gia trên thế giới ! Có nghĩa là có những người ở 63 quốc gia này đã từng truy cập vào website của các bạn. Điều đó chứng tỏ bạn bè của các bạn ở khắp nơi chăng? Hay tính phổ cập Quốc tế của trang Web mà mọi người biết đến nhiều hơn chăng ?
    Ai có thể trả lời tôi được đây?
    AK – Doan 1974

    Reply

  3. lhsbul1975
    Sep 25, 2011 @ 18:47:47

    Cái này là do “mối quan hệ” giữa các hosting domains với Google. Mình nghĩ là WordPress rất được Google ưu ái, bất cứ bài nào mới trên WordPress đều được Google update trên search database của nó. Và từ đó các bài viết trên WordPress đều được Google trưng ra với bàn dân thiên hạ nhanh hơn, nhiều hơn… nên tất nhiên sẽ có nhiều người biết đến hơn.
    Các bài trên website khác không được như vậy, thí dụ như nếu có bài viết trên Yola thì phải 1 thời gian sau và cũng họa hoằn thì mới được Google “để ý” đến.
    Khi cấu hình website (Yola) thì bọn mình đã làm động tác đăng ký với Google để mong được đoái hoài đến nhưng hình như chưa đủ, còn ở bên WordPress chắc dịch vụ “show hàng” với Google là rất tốt, các bài mới đều được WordPress tự động “làm việc” với Google rồi.
    Nhưng một nguyên nhân quyết định phải nói đến ở đây là bạn Thanh Hằng bên này rất chịu khó viết và dịch bài mới; mà chỉ có bài mới hoàn toàn, chứ không phải các links, mới được Google đưa vào database của nó mà thôi!
    Vì vậy bác Khôi nên về nhà chịu khó viết bài vở đưa lên website của mình đi nhé.

    Reply

    • Hoang Kim Oanh
      Sep 27, 2011 @ 01:37:31

      Đúng như vậy! Google rất ưu đãi các bài viết mới. WordPress là nơi hosting nhiều Blog và họ luôn nhắc nhở là phải đăng bài thường xuyên!

      Reply

  4. Hồng Nhung
    Sep 25, 2011 @ 22:04:50

    Cả nhà ơi, đọc bài này xong, Nhung muốn rủ cả nhà quay lại Bulgaria và đi thăm những di sản này đi. Không thì tiếc quá !

    Reply

  5. le hung
    Mar 22, 2014 @ 19:11:31

    Cám ơn đã cho tôi hồi tưởng lại ký ức đã từng song tại QH Bungaria…

    Reply

  6. dinhthihanh
    Mar 25, 2014 @ 12:28:31

    Trong thời gian đi học mình đã được đi cũng nhiều nhưng tôi thấy hôm nay xem các thông tin mà bạn đưa ra ở đây tôi mới biết nhiều nơi mình chưa biết. Cảm ơn bạn rất nhiều.

    Reply

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Free counters!

%d bloggers like this: