Bulgaria

Bulgaria – đất nước gắn bó với một thời tuổi trẻ tươi đẹp của chúng ta.

Bulgaria (Bulgary) nằm ở Đông Nam Âu, trên bán đảo Bancăng, giáp với Rumania về phía bắc, với Serbia và Cộng hòa Maxedonia về phía tây, với Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ về phía nam và cuối cùng giáp với Biển Đen về phía đông. Dân số là 7,7 triệu người với thủ đô là Sofia.

Bulgaria có vị trí chiến lược gần eo biển Thổ Nhĩ Kỳ, kiểm soát tuyến đường bộ từ châu Âu tới Trung Đông và châu Á và vì vậy đây là nơi gặp gỡ của Đông và Tây.

Địa lý

Bulgaria gồm các phần lãnh thổ thời cổ đại là Moesia, Trakia và Macedonia.

Vùng núi phía tây nam có hai dãy núi thuộc Alpine là Rila và Pirin, xa hơn về phía đông là Núi Rhodope. Rặng Rila có đỉnh cao nhất Bán đảo Balkan, Musala, với độ cao 2925m; dãy núi Balkan chạy hướng đông tây qua trung tâm đất nước, phía bắc của Thung lũng Hoa hồng nổi tiếng. Vùng đồi và đồng bằng nằm ở phía đông nam, dọc theo bờ Biển Đen, sông Danube  ở phía bắc. Strandzha là núi cao nhất ở phía đông nam. Vùng đông bắc Dobrudzha ít có đồi núi.

Bán đảo Balkan có tên từ dãy núi Balkan hay Stara Planina chạy qua trung tâm Bulgaria và mở rộng tới vùng phía đông Serbia.

Bulgaria có mạng lưới sông ngòi dày đặc với khoảng 540 sông, đa số ngắn và có mực nước thấp, ngoại trừ con sông Danube nổi tiếng. Sông Iskra dài 368km là con sông lớn nhất nằm hoàn toàn bên trong lãnh thổ Bulgaria. Các con sông lớn khác gồm sông Struma và sông Maritsa ở phía nam.

Trên các dãy núi Rila và Pirin có khoảng 260 hồ băng. Ngoài ra còn nhiều hồ khác nằm trên bờ Biển Đen và hơn 2.200 hồ đập. Có nhiều suối nước khoáng, chủ yếu nằm ở phía tây nam và trung tâm đất nước dọc theo các nếp đứt gãy giữa các dãy núi.

Lịch sử

Tiền sử và cổ đại

Người Thracia, một trong ba tổ tiên chính của người Bulgaria hiện đại, đã để lại nhiều dấu vết vẫn còn lại ở vùng Balkan dù đã trải qua nhiều thiên niên kỷ. Người Thracia sống thành những bộ tộc riêng rẽ cho tới khi Vua Teres thống nhất hầu hết các bộ lạc vào khoảng năm 500 trước Công Nguyên, bên trong Vương quốc Odrysian, sau này phát triển lên tới đỉnh điểm dưới thời Vua Sitalces (cầm quyền 431-424 trước Công Nguyên) và Vua Cotys I (383–359 trước Công Nguyên). Sau đó Đế chế Macedonia đã sát nhập vương quốc Odrysian và Trakian thành một. Năm 188 trước Công Nguyên người La Mã xâm lược Thracia. Các nền văn hóa Thracia và La Mã đã hòa nhập ở một số mức độ, nhưng truyền thống nền tảng của Thracia vẫn không thay đổi.

Người Slavơ xuất hiện ở đầu thế kỷ thứ 6 và tràn ra hầu hết Đông Trung Âu, Đông Âu và Balkans, phân chia thành ba nhóm chính; Tây Slavơ, Đông Slavơ và Nam Slavơ. Một thành phần người Nam Slavơ ở phía đông đã bị người Thracia đồng hóa trước khi tầng lớp quý tộc Bulgaria tự sáp nhập mình vào Đế chế Bulgary đầu tiên.

Europe 840 AD

Đế chế Bulgary đầu tiên

Năm 632 người Bulgar, có nguồn gốc từ Trung Á, dưới sự lãnh đạo của Khan Kubrat, đã hình thành một nhà nước độc lập bắt đầu được gọi là Đại Bulgary. Lãnh thổ của nó mở rộng tới hạ lưu sông Danube ở phía tây, Biển Đen và Biển Azov ở phía nam, Sông Kuban ở phía đông, và Sông Donets ở phía bắc. Người kế vị Kubrat, Khan Asparukh, đã cùng một số bộ tộc Bulgar đi về phía hạ lưu sông Danube, Dniester và Dniepr (được gọi là Olga), mở rộng hãn quốc mới của mình xa thêm nữa về phía Bán đảo Balkan. Một hiệp ước hòa bình với Byzantine năm 681 và việc thành lập thủ đô Bulgar tại Pliska phía nam Danube đánh dấu sự khởi đầu của Đế chế Bulgaria đầu tiên. Cùng thời điểm đó, một trong những người anh em của Asparuh là Kuber, đã hòa giải với nhóm Bulgar tại Macedonia (hiện nay).

Trong cuộc bao vây Constantinople năm 717–718 vị Khan cai trị Bulgary là Tervel đã thực hiện hiệp ước với những người Byzantine bằng cách gửi binh lính tới giúp dân chúng thành phố này. Theo nhà viết sử Byzantine Theophanes, trong trận đánh quyết định người Bulgaria đã giết 22.000 quân Ả Rập, nhờ vậy loại bỏ được mối đe dọa về một cuộc tấn công tổng lực của Ả Rập vào Đông và Trung Âu.

Ảnh hưởng và sự mở rộng lãnh thổ của Bulgary gia tăng thêm nữa trong thời cầm quyền của Khan Krum, người vào năm 811 đã có một thắng lợi quyết định trước quân đội Byzantine dưới sự chỉ huy của Nicephorus I trong Trận Pliska. Thế kỷ thứ 8 và thứ 9 là thời gian số người Slavơ đông đảo dần đồng hoá những người Bulgar nói tiếng Turkic (hay Proto-Bulgarians).

Năm 864, Bulgary ở thời vua Boris I (thường được gọi là vua Boris Người rửa tội) chấp nhận Thiên chúa giáo Chính thống phương Đông.

Bulgary trở thành một cường quốc châu Âu lớn ở thế kỷ thứ 9 và thứ 10, trong khi vẫn đấu tranh với Đế chế Byzantine để giành quyền kiểm soát Balkans. Việc này diễn ra dưới sự cai trị (852–889) của Boris I. Trong thời trị vì của ông, ký tự Cyrill được sửa đổi từ ký tự Glagolitic do các giáo sĩ Saints Cyril và Methodius phát minh đã trở thành căn bản cho sự phát triển của văn hoá. Những thế kỷ sau này, bảng chữ cái này, cùng với ngôn ngữ Bulgaria cổ, đã trở thành ngôn ngữ viết trí thức (lingua franca) cho Đông Âu, được gọi là chữ Slavơ Nhà thờ.

Thời kỳ đỉnh cao mở rộng lãnh thổ của Đế chế Bulgary – bao phủ hầu hết Balkan – diễn ra dưới thời Hoàng đế Simeon I Vĩ đại, Sa hoàng (Hoàng đế) đầu tiên của Bulgary, cầm quyền từ năm 893 tới năm 927. Trận Anchialos (917), một trong những trận đánh đẫm máu nhất thời Trung Cổ đã đánh dấu một trong những thắng lợi quyết định nhất củaBulgariatrước Đế chế Byzantine.

Tuy nhiên, thành tựu lớn nhất của Hoàng đế Simeon là việc phát triển Bulgaria thành một nền văn hoá Slavơ Thiên chúa giáo duy nhất và giàu mạnh, trở thành một hình mẫu cho các dân tộc Slavơ khác ở Châu Âu.

Europe 967 AD

Giữa thế kỷ thứ 10 Bulgary rơi vào giai đoạn suy tàn, bị kiệt quệ bởi các cuộc chiến tranh với Croatia, những cuộc nổi dậy thường xuyên của người Serbia được Byzantine hậu thuẫn, và những cuộc xâm lược của người Magyar và Pecheneg. Vì những nguyên nhân này, Bulgary sụp đổ trước cuộc tấn công trực diện của Rus’ năm 969–971.

Byzantine conquests

Sau đó người Byzantine bắt đầu những chiến dịch chinh phục Bulgary. Năm 971, họ chiếm thủ đô Preslav và bắt Hoàng đế Boris II. Cuộc kháng cự tiếp tục dưới sự lãnh đạo của Sa hoàng Samuil ở các vùng đất phía tây Bulgaria trong vòng gần nửa thế kỷ. Nhưng người Byzantine dưới sự lãnh đạo của Basil II (“Kẻ giết người Bulgar”) đã tiêu diệt nhà nước Bulgary năm 1018 sau thắng lợi tại Kleidion. Sau khi đã đánh bại người Bulgaria, Basil II đã làm mù mắt tới 15.000 tù nhân của trận đánh, trước khi thả họ.

Byzantine Empire losses

Đế chế Bulgary thứ hai

Từ năm 1185, dưới thời Sa hoàng Ivan Asen II đế chế Bungary thứ hai tái lập. Bungary trở thành một cường quốc quan trọng ở Balkan trong hơn hai thế kỷ. Triều đình Asen lập ra thủ đô tại Veliko Turnovo. Kaloyan, triều đại Asen thứ ba, mở rộng quyền cai trị tới Belgrade, Nish và Skopie (Uskub); ông thừa nhận quyền lực tinh thần tuyệt đối của giáo hoàng, và nhận được vương miện hoàng gia từ một phái đoàn của giáo hoàng. Trong trận Adrianople năm1205, Kaloyan đánh bại các lực lượng của Đế chế Latinh và vì thế hạn chế được quyền lực của nó ngay từ những năm đầu thành lập.

Ivan Asen II (1218–1241) mở rộng sự thống trị tới Albania, Epirus, Macedonia và Trakia. Trong thời cầm quyền của ông, nhà nước đã có sự phát triển văn hoá, với những thành tựu nghệ thuật quan trọng của trường phái nghệ thuật Turnovo. Triều đại Asen chấm dứt năm 1257 vì những cuộc xâm lược của người Tatar (bắt đầu từ cuối thế kỷ 13), các cuộc xung đột bên trong và những cuộc tấn công thường xuyên của người Byzantine và Hungary, sức mạnh quốc gia dần suy giảm. Hoàng đế Theodore Svetoslav (cầm quyền 1300–1322) tái lập sức mạnh của Bulgary từ năm 1300 trở về sau, nhưng chỉ mang tính tạm thời. Sự bất ổn chính trị tiếp tục gia tăng, và Bulgary dần mất lãnh thổ. Điều này dẫn tới một cuộc khởi nghĩa nông dân do người chăn lợn Ivaylo lãnh đạo, cuối cùng ông đã đánh bại được các lực lượng của Hoàng đế và lên ngôi vua.

Tới cuối thế kỷ 14, những sự chia rẽ phe phái giữa các lãnh chúa phong kiến Bulgary (boyars) đã làm suy yếu đáng kể tính thống nhất của Đế chế Bulgary thứ hai. Nó tan rã thành ba nhà nước sa hoàng nhỏ và nhiều công quốc bán độc lập đánh lẫn nhau, và cả với người Byzantine, Hungary, Serb, Venetia và Genoese. Trong những trận đánh này, người Bulgary thường liên kết với người Thổ Ottoman. Trong giai đoạn 1365–1370, người Ottoman chinh phục hầu hết các thị trấn và pháo đài của Bungary ở phía nam dãy Balkan.

Ottoman Empire Conquests

Cai trị của Ottoman

Năm 1393, người Ottoman chiếm Turnovo, thủ đô của Đế chế Bulgary thứ hai, sau một cuộc bao vây kéo dài 3 tháng. Năm 1396, Sa hoàngVidinmất ngôi sau khi bị quân thập tự chinh Thiên chúa giáo đánh bại tại trận Nicopolis. Với sự kiện này, người Ottoman cuối cùng đã chinh phục và chiếm đóng Bulgary. Một đội quân thập tự chinh Ba Lan – Hungary dưới sự chỉ huy của Władysław III của Ba Lan được lập ra để giải phóng Balkan năm 1444, nhưng người Thổ đã đánh bại họ trong trận Varna.

Người Ottoman đã tàn sát người Bulgary, và họ đã mất hầu hết các di vật văn hoá của mình. Chính quyền Thổ phá huỷ hầu hết các pháo đài trung cổ của Bulgary để ngăn chặn những cuộc nổi dậy. Các thị trấn và khu vực lớn nơi quyền lực của Ottoman chiếm ưu thế có dân cư rất thưa thớt cho tới tận thế kỷ 19. Giới quý tộc Bulgary bị tiêu diệt và tầng lớp nông dân trở thành nông nô cho những lãnh chúa Thổ Nhĩ Kỳ. Người Bulgary phải trả thuế cao hơn rất nhiều so với dân cư Hồi giáo, và hoàn toàn không có sự bình đẳng về pháp lý với họ. Những người Bulgary đã cải theo Hồi giáo, người Pomaks, vẫn giữ lại ngôn ngữ, y phục và một số phong tục thích hợp với Đạo Hồi. Các nguồn gốc của người Pomaks là chủ đề của một cuộc tranh luận.

Trong hai thập niên cuối cùng của thế kỷ 18 và những thập niên đầu thế kỷ 19, bán đảo Balkan tan rã vào tình trạng vô chính phủ. Người Bulgary gọi giai đoạn này là kurdjaliistvo: các băng nhóm người Thổ có vũ trang được gọi là kurdjalii cướp bóc trong vùng. Tại nhiều khu vực, hàng nghìn nông dân bỏ chạy khỏi vùng nông thôn hoặc tới các thị trấn hoặc tới các khu vực đồi núi và rừng rú; một số người thậm chí còn vượt qua Danube tới Moldova, Wallachia hay miền nam nước Nga.

Năm 1876 cuộc khởi nghĩa tháng 4 nổ ra: một trong những cuộc nổi dậy chống Đế chế Ottoman lớn nhất và được tổ chức tốt nhất của người Bulgary. Dù bị chính quyền Ottoman đàn áp, người Thổ đã tàn sát khoảng 15.000 người Bulgary – cùng với cuộc nổi dậy tại Bosnia năm 1875, cuộc khởi nghĩa này đã khiến các Cường quốc phải can thiệp vào Hội nghị Constantinople năm 1876, phân định các biên giới của sắc tộc Bulgary như ở cuối thế kỷ 19, và tạo lập các thoả thuận pháp lý và chính trị cho việc thành lập hai tỉnh Bulgary tự trị. Chính phủ Ottoman bác bỏ các quyết định của các Cường quốc. Điều này cho phép Nga tìm kiếm một giải pháp bằng vũ lực mà không có nguy cơ đối đầu quân sự với các Cường quốc khác trong cuộc Chiến tranh Crimea từ năm 1854 tới năm 1856.

Balkans independence from Ottoman Empire

Công quốc và Vương quốc

Trong cuộc Chiến tranh Nga-Thổ, 1877-1878, các binh sĩ Nga cùng với một lực lượng lê dương Romania và quân tình nguyện Bulgary đã đánh bại quân đội Ottoman. Hiệp ước San Stefano (3/3/1878), tạo lập một công quốc Bulgary tự trị. Nhưng các Cường quốc phương Tây nhanh chóng phản đối hiệp ước, lo ngại rằng một quốc gia Slavơ rộng lớn ở Balkan có thể phục vụ cho lợi ích của Nga. Điều này dẫn tới Hiệp ước Berlin (1878) về một công quốc Bulgary tự trị, gồm cả Moesia và vùng Sofia. Alexander, Hoàng tử Battenberg, trở thành Hoàng tử đầu tiên của Bulgary. Sau cuộc chiến tranh Serbia- Bulgary và thống nhất với Đông Rumelia năm 1885, công quốc Bulgary tuyên bố mình là một vương quốc hoàn toàn độc lập ngày 5/10/1908, dưới quyền cai trị của Ferdinand I.

Ferdinand, thuộc gia đình công tước Saxe-Coburg-Gotha, trở thành Hoàng tử Bulgary sau khi Alexander von Battenberg thoái vị năm 1886 sau một cuộc đảo chính do các sĩ quan ủng hộ Nga âm mưu. (Dù nỗ lực phản đảo chính của Stefan Stambolov thành công, Hoàng tử Alexander quyết định không giữ chức vị cai trị Bulgary mà không có sự đồng thuận của Alexander III của Nga.)

Balkan Wars

Trong những năm sau khi hoàn toàn độc lập Bulgary ngày càng trở nên quân sự hoá. Cuộc chiến tranh Balkan lần thứ nhất (1912–1913) là một thắng lợi quân sự của Bulgary, nhưng một cuộc xung đột về việc phân chia Macedonia diễn ra giữa các đồng minh giành chiến thắng. Cuộc chiến tranh Balkan lần thứ hai (1913) đẩy Bulgary chống lại Hy Lạp và Serbia, cùng với Romania và Thổ Nhĩ Kỳ. Sau khi bị đánh bại trong cuộc chiến này, Bulgary mất nhiều vùng lãnh thổ đã có được trong cuộc chiến lần thứ nhất, cũng như Miền nam Dobrudzha và nhiều phần của vùng Macedonia.

Trong Thế chiến I, Bungary tham chiến với tư cách đồng minh của Liên minh Trung tâm. Thất bại năm 1918 khiến nước này thêm một lần mất bớt lãnh thổ (Western Outlands cho Serbia, Tây Trakia cho Hy Lạp và vùng Nam Dobrudzha mới tái chinh phục được cho Romania).

Thế chiến II

Trong những năm 1930 nước này gặp phải tình trạng bất ổn chính trị, dẫn tới sự thành lập chính quyền quân sự, cuối cùng biến thành một chế độ độc tài của Vua Boris III (cầm quyền 1918–1943). Sau khi giành lại được quyền kiểm soát Nam Dobrudzha năm 1940, Bulgary liên minh với Phe Trục, dù họ không tham gia vào Chiến dịch Barbarossa (1941) và không bao giờ tuyên chiến với Liên bang Xô viết. Trong Thế chiến II Phát xít Đức đã cho phép Bulgary chiếm nhiều vùng của Hy Lạp và Nam Tư, dù quyền quản lý dân cư và lãnh thổ vẫn nằm trong tay người Đức. Bulgary là một trong ba quốc gia duy nhất (cùng với Phần Lan và Đan Mạch) cứu được toàn bộ dân cư Do Thái (khoảng 50.000 người) khỏi các trại tập trung Phát xít qua những cách đưa ra lý lẽ và trì hoãn trước các yêu cầu của Đức. Tuy nhiên, Phát xít đã trục xuất hầu như toàn bộ dân Do Thái ở Nam Tư và các lãnh thổ Hy Lạp do Bulgary chiếm đóng tới Trại tập trung Treblinka ở Ba Lan bị chiếm đóng.

Mùa hè năm 1943, Boris III bất ngờ qua đời, và nước này rơi vào tình trạng hỗn loạn chính trị khi cuộc chiến đổi chiều với Phát xít Đức và phong trào Cộng sản giành được nhiều quyền lực. Đầu tháng 9 năm 1944, Liên xô tuyên chiến với Bulgary và xâm lược nước này, không gặp phải sự kháng cự nào. Điều này cho phép những người Cộng sản (Đảng Công nhân Bulgary) lên nắm quyền lực và thành lập một nhà nước Cộng sản. Chế độ mới đưa Bulgary quay sang chống lại Phát xít.

Cộng hoà Nhân dân Bulgary

Mặt trận Tổ quốc, một liên minh chính trị do những người Cộng sản chiếm đa số, lên nắm chính phủ năm 1944 và Đảng Cộng sản tăng số thành viên từ 15.000 lên 250.000 người trong sáu tháng sau đó. Họ giành được chính quyền ngày 9 tháng 9 năm đó. Tuy nhiên, Bulgary mãi tới năm 1946 mới trở thành một nhà nước Cộng hoà Nhân dân. Nhà nước chịu ảnh hưởng của Liên xô, cùng với Georgi Dimitrov (Thủ tướng từ năm 1946 tới năm 1949) là nhà lãnh đạo có ảnh hưởng nhất của Bulgary. Nền kinh tế kế hoạch theo kiểu Liên xô, dù một số chính sách theo hướng thị trường đã xuất hiện ở dạng thực nghiệm dưới thời Todor Zhivkov (Thư ký thứ nhất, 1954 tới năm 1989). Tới giữa những năm 1950 mức sống của người dân tăng lên đáng kể, và vào năm 1957 lần đầu tiên ở Đông Âu các nông trang viên tập thể được hưởng hệ thống hưu bổng và an sinh xã hội nông nghiệp. Todor Zhivkov là người nắm quyền thực tế từ năm 1956 tới năm 1989, vì thế ông trở thành một trong những lãnh đạo cầm quyền lâu nhất ở Khối Đông Âu. Zhivkov biến Bulgary trở thành một trong những đồng minh đáng tin cậy nhất của Liên xô, và gia tăng tầm quan trọng của nó trong khối Comecon. Con gái ông Lyudmila Zhivkova trở thành nhân vật rất nổi tiếng trong nước khi khuyến khích quảng bá di sản văn hoá và nghệ thuật quốc gia trên bình diện quốc tế. Mặt khác, một chiến dịch đồng hoá bắt buộc hồi cuối những năm 1980 với sắc tộc Thổ Nhĩ Kỳ đã khiến khoảng 300.000 người Thổ Bulgary di cư tới Thổ Nhĩ Kỳ.

Nước Cộng hoà Nhân dân chấm dứt tồn tại năm 1989 như nhiều nước khác tại Đông Âu, cũng như chính Liên bang Xô viết, bắt đầu sụp đổ. Phe đối lập buộc Zhivkov và cánh tay phải của ông Milko Balev rời bỏ quyền lực ngày 10 tháng 11 năm 1989.

Tháng 6 năm 1990 cuộc bầu cử tự do diễn ra, với chiến thắng thuộc phái ôn hoà của Đảng Cộng sản (đổi tên thành Đảng Xã hội Bulgary — BSP). Tháng 7 năm 1991, nước này thông qua một Hiến pháp mới quy định về một Tổng thống khá ít quyền lực và một Thủ tướng có trách nhiệm về lập pháp. Thập niên 1990 là giai đoạn nước này có tỷ lệ thất nghiệp cao, lạm phát cao và không ổn định cũng như sự bất bình của dân chúng.

Từ năm 1989, Bulgary đã tổ chức các cuộc bầu cử đa đảng và tư nhân hoá nền kinh tế của mình, nhưng những khó khăn kinh tế và một làn sóng tham nhũng khiến hơn 800.000 người Bulgary, hầu hết là các nhà chuyên môn có trình độ, di cư trong một cuộc “chảy máu chất xám”. Gói cải cách được đưa ra năm 1997 đã khôi phục sự tăng trưởng kinh tế, nhưng dẫn tới sự gia tăng bất bình đẳng xã hội. Bulgary trở thành thành viên NATO năm 2004 và của Liên minh châu Âu năm 2007.

Chính trị

Từ năm 1991, Bulgary là một quốc gia dân chủ, đơn nhất cộng hoà nghị viện hiến pháp.

Nước này trở thành thành viên của Liên hiệp quốc năm 1955, và là thành viên sáng lập của OSCE năm 1995. Với tư cách là một Đối tác Tham vấn của Hiệp ước Bắc Cực, Bulgary đã tham gia vào ban quản lý các lãnh thổ nằm ở phía nam vĩ độ 60° nam. Quốc hội (Народно събрание) gồm 240 đại biểu, với nhiệm kỳ 4 năm và được bầu lên bởi nhân dân. Một đảng hay liên minh phải giành tối thiểu 4% phiếu bầu để có đại diện trong nghị viện. Quốc hội có quyền ban hành pháp luật, thông qua ngân sách, lập kế hoạch bầu cử tổng thống, lựa chọn và bãi chức Thủ tướng và các bộ trưởng khác, tuyên chiến, triển khai quân đội ở nước ngoài và thông qua các hiệp ước và thoả thuận quốc tế. Một chính phủ thiểu số do đảng Các công dân vì sự phát triển châu Âu (GERD) của Bulgary cầm quyền từ sau cuộc bầu cử tháng 7 năm 2009.

Hệ thống tư pháp gồm các toà án vùng, quận và phúc thẩm, cũng như một Toà án Tối cao. Ngoài ra, Bulgary có một Toà án Hành chính Tối cao và một hệ thống toà án quân sự.

Tổng thống Bulgary là nguyên thủ quốc gia và tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang. Ông cũng là chủ tịch Hội đồng Tư vấn An ninh Quốc gia. Tuy không thể đưa ra bất kỳ điều luật nào ngoài việc đề xuất sửa đổi Hiến pháp, Tổng thống có thể từ chối một điều luật buộc nó phải quay lại trải qua quá trình tiếp tục tranh luận, dù nghị viện có thể bác bỏ sự phủ quyết của tổng thống bằng một đa số đại biểu.

Nước này gia nhập NATO ngày 29 tháng 3 năm 2004 và đã ký kết Hiệp ước gia nhập Liên minh châu Âu ngày 25 tháng 4 năm 2005. Nước này trở thành một thành viên đầy đủ của Liên minh châu Âu ngày 1 tháng 1 năm 2007, và được bầu 17 thành viên vào trong Nghị viện châu Âu.

Quân đội

Quân đội Bulgary gồm ba nhánh chính – lục quân, hải quân và không quân.

Sau một loạt các cuộc cắt giảm năm 1989, quân đội thường trực nước này chưa tới 45.000 người (hiện tại), giảm từ gần 200.000 năm 1988. Các lực lượng dự trữ gồm 303.000 binh lính và sĩ quan. Một số nhánh bán quân sự, như biên phòng và quân đội xây dựng đường sắt có khoảng 34.000 người. Các lực lượng vũ trang có các thiết bị khá hiện đại của Liên xô, như máy bay chiến đấu MiG-29, tên lửa đất đối không SA-6 Gainful và SA-10 Grumble và tên lửa đạn đạo tầm ngắn SS-21 Scarab.

Quân đội Bulgary đã tham gia vào nhiều nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia, Bosna và Herzegovina, Kosovo, Afghanistan và Iraq. 

Năm 2008 Bulgary đã bãi bỏ nghĩa vụ quân sự với các công dân. Hải quân và không quân Bulgary đã hoàn toàn chuyên nghiệp hoá năm 2006, tiếp đó là các lực lượng lục quân  vào cuối năm 2008.

Tháng 4 năm 2006 Bungary và Hoa Kỳ đã ký một thoả thuận hợp tác quốc phòng, theo đó đưa các căn cứ không quân tại Bezmer (gần Yambol) và Graf Ignatievo (gần Plovdiv), trại huấn luyện Novo Selo (gần Sliven), và một trung tâm hậu cần tại Aytos trở thành cơ sở quân sự chung.

Các tỉnh và khu đô thị

Từ năm 1987 tới năm 1999 Bungary gồm chín tỉnh (oblasti); từ năm 1999, nước này có 29 tỉnh. Tất cả đều có tên theo thành phố thủ phủ.

Các tỉnh được chia thành 264 khu đô thị.

Kinh tế

Bulgary có một nền kinh tế thị trường tự do mở và đã công nghiệp hoá, với một khu vực tư nhân lớn và khá phát triển cùng một số doanh nghiệp chiến lược thuộc sở hữu nhà nước. Ngân hàng Thế giới xếp hạng nước này là một “nền kinh tế có thu nhập trên trung bình”. Bulgary đã có tăng trưởng kinh tế nhanh (trong những năm gần đây), thậm chí dù nước này vẫn bị xếp hạng là quốc gia thành viên có thu nhập thấp nhất của EU. Theo dữ liệu của Eurostat, GDP theo sức mua tương đương trên đầu người của Bulgary ở mức 40% mức trung bình của EU năm 2008. Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ ước tính GDP trên đầu người của Bulgary ở mức $12.900 năm 2008, hay bằng một phần ba mức của Bỉ. Nền kinh tế dựa chủ yếu vào công nghiệp và nông nghiệp, dù khu vực dịch vụ đang đóng góp ngày càng nhiều hơn vào tăng trưởng GDP.

Vì có tai tiếng về nạn tham nhũng cao và thiếu sự kiên quyết đấu tranh với tình trạng tham nhũng ở các cấp độ cao, Liên minh châu Âu đã cho đóng băng một phần các khoản vốn khoảng 450 triệu € và có thể đóng băng thêm nữa nếu chính quyền Bulgary không thể hiện quyết tâm trong việc đấu tranh chống tham nhũng.

Bulgary đã chế ngự được tình trạng lạm phát từ cuộc khủng hoảng kinh tế sâu năm 1996–1997, nhưng những con số (mới nhất) cho thấy tỷ lệ lạm phát đã gia tăng lên tới 12.5% trong năm 2007. Nạn thất nghiệp đã giảm từ hơn 17% hồi giữa thập niên 1990 xuống còn gần 7% năm 2007, nhưng ở một số vùng nông nghiệp tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao. Tình trạng lạm phát ở Bulgary đồng nghĩa với việc nước này sẽ không được chấp nhận vào eurozone  cho tới năm 2013–2014.

Du lịch

Năm 2007 tổng số 5.200.000 du khách đã tới Bulgary, biến nước này trở thành địa điểm thu hút du khách hàng thứ 39 thế giới. Du khách từ Hy Lạp, Romania và Đức chiếm 40%. Một số lượng lớn du khách Anh (+300.000), Nga (+200.000), Serbia (+150.000), Ba Lan (+130.000) và Đan Mạch (+100.000) tới thăm Bulgary. Hầu hết trong số họ đều bị lôi cuốn bởi các phong cảnh tươi đẹp và đa dạng, các di sản văn hoá và lịch sử được bảo tồn tốt, và sự tĩnh lặng của các vùng nông thôn và miền núi.

Các địa điểm du lịch chính gồm thủ đô Sofia, các khu resort ven biển như Albena, Sozopol, Bãi cát Vàng và Bãi biển Nắng; và các khu resort mùa đông như Pamporovo, Chepelare, Borovetz và Bansko. Các địa điểm du lịch vùng thôn quê như Arbanasi và Bozhentsi là nơi có các truyền thống sắc tộc được bảo tồn tốt. Các địa điểm thu hút du khách khác gồm Tu viện Rila từ thế kỷ thứ 10 và lâu đài Euxinograd thế kỷ 19.

Khoa học, công nghệ và viễn thông

Bulgary chỉ chi 0.4% GDP cho nghiên cứu khoa học, hay khoảng $ 376 triệu năm 2008. Nước này có truyền thống mạnh trong toán học, thiên văn học, vật lý và công nghệ hạt nhân và giáo dục định hướng khoa học, và có kinh nghiệm khá lớn trong nghiên cứu dược. Viện Hàn lâm Khoa học Bulgary (BAS), cơ quan khoa học hàng đầu của đất nước, tụ tập hầu hết các nhà nghiên cứu của Bulgary làm việc.

Các nhà khoa học Bulgary đã có nhiều phát minh và sáng tạo quan trọng mang tính cách mạng trên bình diện thế giới: máy tính điện tử số đầu tiên của thế giới, do nhà khoa học người Mỹ gốc Bulgary John Vincent Atanasoff thiết kế; đồng hồ điện tử số đầu tiên (Peter Petroff), chiếc máy bay ném bom đầu tiên (đại uý Simeon Petrov); lý thuyết động lực phân tử về hình thành tinh thể và phát triển tinh thể (của Ivan Stranski) và photoelectrets (Georgi Nadjakov), đây là một bước quan trọng trong việc phát triển máy photocopy đầu tiên. Bulgary cũng là quốc gia thứ 6 trên thế giới có nhà du hành đi vào vũ trụ. Thiếu tướng Georgi Ivanov trên tàu Soyuz 33 (1979), tiếp đó là trung tá Alexander Alexandrov trên tàu Soyuz TM-5 (1988).

Công nghệ thông tin là một trong số các nhánh khoa học phát triển nhất của Bulgary, và vào những năm 1980 nước này đã được gọi là Thung lũng Silicon của Khối Đông Âu. Theo báo cáo của Brainbench Global IT, Bulgary xếp thứ nhất ở châu Âu về số chuyên gia IT trên đầu người và đứng thứ 8 thế giới về tổng số chuyên gia ICT, vượt xa một số nước có quy mô dân số lớn hơn nhiều. Ngoài ra, Bulgary cũng là nước có siêu máy tính mạnh nhất ở Đông Âu (trong top 100 trên thế giới). Những năm sau 2000 đã chứng kiến một sự gia tăng mạnh số lượng người sử dụng internet: năm 2000, có 430.000 người, năm 2004 – 1.545.100, và năm 2006 – 2.2 triệu người.

Tập tin:Rozhen dome.jpg

Tháp chứa kính thiên văn 200cm tại Đài thiên văn Rozhen, đài thiên văn lớn nhất ở Đông Nam Âu.

Vận tải

Bulgary có vị trí địa lý chiến lược có tầm quan trọng độc nhất. Từ những thời cổ đại, nước này đã là ngã tư đường chính giữa châu Âu, châu Á và châu Phi. Năm trong số mười Hành lang xuyên châu Âu chạy qua lãnh thổ nước này, tổng chiều dài đường bộ của Bulgary là 102.016km, trong đó có 93.855km trải nhựa và 441km là đường cao tốc. Nước này có nhiều kế hoạch xây dựng đường cao tốc, đang được tiến hành hay đã xây dựng một phần: Đường cao tốc Trakiya, đường cao tốc Hemus, đường cao tốc Cherno More, đường cao tốc Struma, đường cao tốc Maritza và đường cao tốc Lyulin.

Bulgary cũng có 6500km đường sắt, hơn 60% đã được điện khí hoá. Có một dự án trị giá €360.000.000 triệu để hiện đại hoá và điện khí hoá tuyến đường sắt Plovdiv–Kapitan Andreevo. Tuyến đường sắt cao tốc duy nhất trong vùng, giữaSofia vàVidin, sẽ đi vào hoạt động năm 2017, với chi phí €3.000.000.000.

Giao thông đường không đã phát triển khá toàn diện. Bulgary có sáu sân bay quốc tế chính  — tại Sofia, Burgas, Varna, Plovdiv, Rousse và Gorna Oryahovitsa. Sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ năm 1989, hầu hết các sân bay nội địa nhỏ đều bị bỏ hoang không sử dụng khi các chuyến bay nội địa giảm sút. Nước này duy trì nhiều sân bay quân sự và nông nghiệp. 128 trong tổng số 213 sân bay ở Bungary có đường băng cứng.

Các cảng quan trọng nhất và có lượng vận tải hàng hoá lớn nhất là Varna và Burgas. Burgas, Sozopol, Nesebar và Pomorie là những cảng hỗ trợ cho các đội tàu đánh cá. Các cảng lớn trên SôngDanube gồm Rousse và Lom (phục vụ cho thủ đô).

Nhân khẩu

Theo cuộc điều tra dân số năm 2001, dân số Bulgary gồm chủ yếu sắc tộc Bulgary (83.9%), với hai cộng đồng thiểu số chính là người Thổ (9.4%) và người Roma (4.7%).[ Trong số 2.0% còn lại, 0.9% gồm khoảng 40 cộng đồng thiểu số nhỏ hơn, chủ yếu là người Nga, người Armenia, người Ả RẬp, Vlachs, Do Thái, Tatar Crimea và Sarakatsani (về mặt lịch sử cũng được gọi là người Karakachans). 1.1% dân số không tuyên bố sắc tộc trong cuộc điều tra mới nhất năm 2001.

Trong những năm gần đây, Bulgary là một trong những nước có tỷ lệ tăng dân số thấp nhất thế giới. Tăng trưởng dân số âm đã diễn ra từ đầu thập niên 1990, vì sụp đổ kinh tế và di cư cao. Năm 1989 dân số nước này có 9.009.018 người, giảm dần xuống còn 7.950.000 năm 2001 và 7.606.000 năm 2009. Dân số có tỷ lệ sinh 1.48 trẻ em trên phụ nữ năm 2008. Tỷ lệ sinh cần đạt mức 2.2 để tái lập mức tăng dân số tự nhiên.

Đa số người Bulgary (82.6%) theo Nhà thờ Chính thống. Được thành lập năm 870  thuộc Khu giáo trưởng Constantinople (có Tổng giám mục, tăng lữ và các bản kinh từ đây), Nhà thờ Chính thống có vị thế độc lập từ năm 927. Các tôn giáo lớn khác gồm Hồi giáo (12.2%), nhiều giáo phái Tin lành (0.8%) và Cơ đốc giáo La Mã (0.5%); với các giáo phái khác, vô thần và không tuyên bố chiếm xấp xỉ 4.1%. Bulgary chính thức là một nhà nước thế tục và Hiến pháp đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng nhưng coi Chính thống là một tôn giáo chính thức. Trong cuộc điều tra dân số năm 2001, 82.6% người dân tuyên bố mình là tín đồ Thiên chúa giáo Chính thống, 12,2% Hồi giáo, 1.2% các giáo phái Thiên chúa giáo khác, 4% các tôn giáo khác (Phật giáo, Đạo giáo, Hindu giáo, Do Thái giáo).

Hồi giáo tới nước này vào cuối thế kỷ 14 sau cuộc chinh phục của người Ottoman. Ở thế kỷ 16 và 17, các nhà truyền giáo từ La Mã đã cải đạo Paulicians thuộc các quận Plovdiv và Svishtov sang Cơ đốc giáo La Mã. Cộng đồng Do Thái tại Bulgary, từng là một trong những cộng đồng lớn nhất châu Âu, có chưa tới 2.000 người.

Văn hóa

Một số nền văn minh cổ, đáng chú ý nhất là của người Thrace, Hy Lạp, La Mã, Slav, và Bulgar, đã để lại dấu ấn trong văn hoá, lịch sử và di sản của Bulgary. Các đồ tạo tác Thrace gồm nhiều ngôi mộ và đồ vàng bạc, trong khi người Bulgar cổ để lại dấu vết của họ trong văn hoá và kiến trúc sơ kỳ. Cả đế chế Bulgary thứ nhất và thứ hai đều là những đầu mối của châu Âu Slavơ trong hầu hết thời Trung Cổ, để lại ảnh hưởng đáng chú ý về văn hoá và văn học trong thế giới Slavơ Chính thống phương Đông qua các trường phái Preslav và Trường phái Văn học Ohrid. Bảng chữ cái Cyrill, được sử dụng trong nhiều ngôn ngữ Đông Âu và châu Á, có nguồn gốc từ hai trường phái này ở thế kỷ 10 Công Nguyên.

Ngày nay Bulgary có chín Địa điểm di sản thế giới của UNESCO. Một đồ tạo tác lịch sử quan trọng khác là kho tàng vàng chế tác cổ nhất thế giới, có niên đại từ thiên niên kỷ thứ 5 trước Công Nguyên, tìm thấy tại Nghĩa trang Varna.

Nước này có một truyền thống âm nhạc lâu đời, bắt nguồn từ đầu thời kỳ Trung Cổ. Một trong những nhà soạn nhạc nổi tiếng sớm nhất được biết ở Châu Âu Trung Cổ là Yoan Kukuzel (khoảng 1280–1360). Âm nhạc dân gian quốc gia có đặc trưng riêng biệt và sử dụng nhiều nhạc cụ truyền thống, như gudulka (гъдулка), gaida (гайда) – kèn túi, kaval (кавал) và tupan (тъпан). Bulgary cũng có một di sản nghệ thuật thị giác giàu có, đặc biệt trong tranh tường, mural và các biểu tượng, nhiều tác phẩm trong số này là tác phẩm của Trường phái nghệ thuật Tarnovo.

Rượu Bulgary được xuất khẩu đi khắp thế giới, và tới năm 1990 nước này vẫn đứng thứ hai thế giới về tổng lượng xuất khẩu rượu đóng chai. Ở thời điểm năm 2007, nước này sản xuất 200.000 tấn rượu hàng năm, xếp hạng 20 thế giới. Bulgary cũng sản xuất một lượng lớn bia và rakia (rượu sản xuất tại nhà). Lukanka, banitsa, shopska salad, lyutenitsa, sirene và kozunak và những món đặc trưng của ẩm thực Bulgary.

Thể thao

Bulgary có thành tích cao tại các môn thể thao như bóng chuyền, vật, cử tạ, bắn súng, thể dục, cờ vua, và gần đây là vật sumo và tennis. Đội tuyển bóng chuyền nam quốc gia Bulgary là một trong những đội tuyền hàng đầu châu Âu và thế giới, xếp hạng 4 thế giới theo bảng xếp hạng năm 2009 của FIVB.

Bóng đá là môn thể thao được ưa chuộng nhất trong nước. Dimitar Berbatov (Димитър Бербатов) là một trong những cầu thủ bóng đá Bulgary nổi tiếng nhất thế kỷ 21. Các câu lạc bộ nổi tiếng trong nước gồm PFC CSKA Sofia (được coi là câu lạc bộ hàng đầu đất nước) và PFC Levski Sofia, là câu lạc bộ bóng đá Bulgary đầu tiên tham gia UEFA Champions League hiện đại năm 2006/2007. Đội tuyển quốc gia thành công nhất tại World Cup 94′ khi họ vào tới bán kết và chỉ bị loại bởi đội tuyển Italia với một cú đúp của Roberto Baggio. Bulgary thua trận với tỷ số 2-1 và cuối cùng giành vị trí thứ 4 sau trận thua 4-0 khi tranh giải 3, 4 trước Thuỵ Điển.

Bulgary tham gia vào cả Olympic mùa hè và mùa đông, và lần đầu tiên họ xuất hiện trong một kỳ Olympic hiện đại là vào năm 1896, khi vận động viên thể dục người Thuỵ Sĩ Charles Champaud đại diện cho nước này. Từ đó Bulgary đã tham gia vào hầu hết các kỳ Olympic mùa hè, và tới năm 2008 họ đã giành được tổng cộng 212 huy chương: 51 vàng và 84 bạc cùng 77 đồng.

Tập tin:Kotooshu winning Emperor's Cup 2008 May.jpg

Vận động viên Sumo Kotoōshū (Kaloyan Mahlyanov), người châu Âu đầu tiên được nhận Cúp Hoàng Đế (tháng 5 năm 2008).

Có tham khảo từ Wikipedia

Мила Родино

1. Горда Стара планина,
до ней Дунава синей,
слънце Тракия огрява,
над Пирина пламеней.

Chorus:

Мила Родино,
ти си земен рай,
твойта хубост, твойта прелест,
ах, те нямат край.

Мила Родино,
ти си земен рай,
твойта хубост, твойта прелест,
ах, те нямат край.

2. Паднаха борци безчет
за народа наш любим,
майко, дай ни мъжка сила
пътя им да продължим.

Мила Родино (Tổ quốc yêu dấu) là Quốc ca Bulgaria từ năm 1964, phần nhạc và lời dựa trên bài hát “Горда Стара планина” (Dãy núi già Stara Planina kiêu hãnh) được viết và sáng tác vào năm 1885 bởi Svetan Rdoslavov, một sinh viên Bulgaria, trên đường ông đi chiến đấu trong cuộc chiến Serbi-Bulgari. Bài hát đã trải qua nhiều sửa đổi so với nguyên bản, mới nhất là vào năm 1990, có một câu trong bài hát gốc nói về tình hữu nghị với Nga đã bị gỡ bỏ.

Từ năm 1886 đến năm 1947 Quốc ca của Bulgaria là bài “Шуми Марица“.

Từ năm 1947 – 1950 tạm dùng bài “Републико наша, здравей !“.

Từ năm 1950 – 1964 là bài “Българийо мила”

***

CỘNG HÒA BUNGARI

I. KHÁI QUÁT CHUNG:

1. Tên nước: Cộng hòa Bungari (The Republic of Bulgaria)

2. Thủ đô: Xô-phi-a (Sofia) gần 1,4 triệu dân

3. Ngày Quốc khánh: 3/3 (Ngày giải phóng Bungari khỏi ách đô hộ của Thổ Nhĩ Kỳ 3/3/1878)

4. Vị trí địa lý: Nằm ở Đông – Nam Châu Âu, giữa bán đảo Ban-căng, phía Bắc giáp Ru-ma-ni, phía Nam giáp Hy Lạp, phía Đông – Nam giáp Thổ Nhĩ Kỳ, phía Đông giáp Biển Đen, phía Tây giáp Xéc-bia, phía Tây Nam giáp Ma-xê-đô-ni-a

5. Diện tích: 110.910 km2

6. Khí hậu: ôn đới, nhiệt độ trung bình 10,5oC

7. Dân số: 7,56 triệu người, tính đến năm 2009 (trong đó người Bungari: 83,9%, người Bungari gốc Thổ: 9,4%, người Di-gan: 4,7%. 71% dân số sống ở thành phố)

8. Dân tộc: Xla-vơ

9. Ngôn ngữ: Tiếng Bungari

10. Đơn vị tiền tệ: Lê-va (Leva). Tỷ giá 1 USD = 1,39 Leva (4/2011)

11. Tôn giáo: 83% dân số theo đạo Cơ đốc Chính thống (Orthodox), 12% theo đạo Hồi, 1% dân theo đạo Thiên chúa và 4% theo các đạo khác

12. Thể chế: Theo chế độ Cộng hòa Đại nghị. Tổng thống do dân bầu trực tiếp bằng bỏ phiếukín, nhiệm kỳ 5 năm. Quốc hội 1 Viện do dân bầu, nhiệm kỳ 4 năm. Thủ tướng do Tổng thống đề cử (sau khi đảng có nhiều ghế nhất trong Quốc hội thắng cử và giới thiệu ứng cử Thủ tướng) vàQuốc hội phê chuẩn.

II. QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM:

1. Quan hệ chính trị – ngoại giao

Ngày 8/2/1950 hai nước lập quan hệ ngoại giao. Từ 1950 đến 1989 quan hệ hai nước luôn phát triển tốt đẹp. Bạn đã dành cho ta sự ủng hộ và giúp đỡ quý báu về tinh thần và vật chất trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ đất nước. Đặc biệt, Bạn đã xóa nợ cho ta 147 triệu Rúp (so với số dân hơn 8 triệu); như vậy Bulgaria đứng đầu trong số các nước XHCN cũ về việc hỗ trợ vật chất cho Việt Nam tính theo đầu người của Bulgaria từ năm 1975 về trước.

Từ năm 1990 do Bulgaria thay đổi thể chế, quan hệ hai nước bị chững lại một thời gian ngắn. Từ 1993, quan hệ dần dần được khôi phục. Chính quyền hiện nay ở Bulgaria tiếp tục duy trì và phát triển quan hệ hợp tác truyền thống với ta.

Các chuyến thăm cao cấp gần đây

– Phía Bun-ga-ri thăm Việt Nam có: Chủ tịch Quốc hội Gerdzikov(03/2004); Thủ tướng Bun-ga-ri S. Stanisev (11/2006), Phó Tổng thống A. Marin (04/2007), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (10/2007) Chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại Quốc hội S. Passi (03/2008), Bộ trưởng Hành chính Nhà nước N. Vasillev (04/2008), Bộ trưởng Lao động Maslarova (04/2008); Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao I. Kanfin (11/2008); Tổng thống G. Parvanov (01/2009); Thứ trưởng thứ nhất Bộ ngoại giao Ma-rin Rai-cốp (3/2010); Chủ tịch Quốc Hội Tsetska Tsacheva (4/2012); Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính Simeon Dyankov (10/2012). Tháng 10/2013: Tổng thống Bulgari sang thăm Việt Nam

– Về phía Việt Nam thăm Bun-ga-ri có: Thủ tướng Phan Văn Khải (09/2000), Phó Chủ tịch Quốc hội Trương Quang Được (04/2004); Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Nguyễn Văn Son (06/2004); Chủ tịch Hội đồng nhân dân Tp Hà Nội Phùng Hữu Phú (07/2004); Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa (10/2005); Trưởng ban Khoa giáo Trung ương Đỗ Nguyên Phương (02/2006); Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phúc Thanh (01/2007), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng (06/2008), Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng (07/2010); Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan (10/2010), Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân (09/2012)

– Đến tháng 11/2010, hai bên đã ký 21 Hiệp định và các văn kiện hợp tác giữa 2 nước tạo cơ sở pháp lý mới cho quan hệ, trong đó có Hiệp định xử lý hai khoản nợ và Hiệp định miễn thị thực cho người mang hộ chiếu ngoại giao và hộ chiếu công vụ.

2. Cộng đồng người Việt Nam tại Bungary

Hiện có khoảng hơn 1040 người Việt Nam sinh sống tại Bun-ga-ri, chủ yếu kinh doanh hàng may mặc, thủ công mỹ nghệ hoặc nông phẩm.

3. Hợp tác thương mại song phương:

Tháng 3/2001 hai bên ký Hiệp định mới về kinh tế-thương mại, dành cho nhau quy chế tối huệ quốc. Về hợp tác thương mại, so với các đối tác của Việt Nam trong khối EU, Bungari tuy là một đối tác truyền thống, tin cậy nhưng kim ngạch thương mại hai chiều thời gian qua thực sự còn quá khiêm tốn so với tiềm năng và mong muốn của hai bên. Năm 2012, trao đổi thương mại hai chiều giữa Việt Nam – Bungari chỉ đạt gần 59 triệu USD. Trong đó, Việt Nam xuất khẩu vào Bungari gần 38 triệu USD và nhấp khẩu từ Bungari hơn 21 triệu USD. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, năm 2013 kim ngạch thương mại hai chiều có tăng nhưng cũng chỉ đạt hơn 67 triệu USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu hơn 43 triệu USD và nhập khẩu từ Bulgari hơn 24 triệu USD.

Nếu xét về con số tuyệt đối, quan hệ thương mại hai nước còn rất thấp. Tuy nhiên, nếu xét về tốc độ tăng trưởng thì kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam – Bulgari so với các nước EU vẫn đạt mức khá. Kim ngạch thương mại hai chiều vẫn liên tục tăng từ 15-20% trong những năm gần đây mặc cho nền kinh tế hai nước cũng như thế giới vẫn trong giai đoạn khó khăn. Đây là tín hiệu vui trong quan hệ thương mại hai nước.

Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là: gạo, hạt điều, cà phê, hạt tiêu, thủy sản đông lạnh, các sản phẩm từ cao su, đồ da, may mặc, giày dép, túi xách, vily, ô dù, máy tính và phụ kiện linh kiện điện tử và nhập khẩu từ Bungari: thuốc tân dược, thuốc bảo vệ thực vật, lúa mỳ, rượu nho, thức ăn gia súc, nguyên liệu và phụ gia chế biến thức ăn gia súc, máy móc thiết bị và dụng cụ cơ khí.

4. Hợp tác đầu tư:

Về hợp tác trong lĩnh vực đầu tư, hiện tại Bungari có 8 dự án đầu tư trực tiếp tại Việt Nam với tổng số vốn đăng ký 31,4 triệu USD, trong đó có 5 dự án 100% vốn nước ngoài với trị giá đầu tư 14,96 triệu USD, chiếm hơn 50% tổng vốn đầu tư tại Việt Nam, đứng thứ 54 trong tổng số 92 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Các dự án đầu tư bao gồm các lĩnh vực: may mặc, chế biến thực phẩm, công nghệ thông tin. Các nhà đầu tư Bungari hiện đang hoạt động tại 5 địa phương thuộc các tỉnh: Lâm Đồng, Thừa Thiên Huế, Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh.

5. Hợp tác trong các lĩnh vực khác

Trước năm 1990, Bun-ga-ri đã giúp đào tạo cho Việt Nam 3600 cán bộ các ngành và khoảng 23 nghìn công nhân, lao động.
– Tháng 2/2001 hai bên ký Hiệp định nối lại hợp tác giáo dục và Chương trình hợp tác 2001-2003.
– Tháng 2/2008 hai bên ký biên bản ghi nhớ về hợp tác xuất khẩu lao động; từ 2008-2009 chỉ đưa gần 200 người sang Bungari và do tác động khủng hoảng kinh tế, đa số đã về nước 2009, hiện chỉ còn gần 20 người.

– Tháng 11/2007, hai bên ký Chương trình hợp tác giáo dục cho giai đoạn 2007 – 2009.
– Hiện hai bên đang đàm phán để ký tiếp Chương trình hợp tác giáo dục từ 2010– 2014.
– Đến tháng 6/2010, có 37 lưu học sinh Việt Nam đang học tại Bungari theo các chương trình hợp tác giữa hai nước.

c. Hợp tác địa phương:

Thúc đẩy hợp tác giữa các thủ đô Hà Nội – Xôphia; thành phố Hồ Chí Minh – Plovdiv; Quảng Ninh – Burgas; Hải phòng và Varna; Đà Lạt – Kazanlac; Thái Bình – Pa-dát-đơ-díc.

7.  Địa chỉ đại sứ quán:

Đại sứ quán Cộng hòa Bungari tại Hà Nội:

Địa chỉ: Số 5, Phố Núi Trúc, khu Vạn Phúc – Hà Nội, Việt Nam
Điện thoại: (84-04) 38452908

Fax: (84-04) 38460856

E-mail: bgremb13@fpt.vnbgremb14@fpt.vn

Website: www.mfa.bg/hanoi

Đại sứ quán Việt Nam tại Bungari:

Địa chỉ : Phố Jetvarka, No 1, Sofia 1113

Điện thoại : +359-2-9632609/9632743

Fax : +359-2-9633658

Email : vnemb.bg@mofa.gov.vn

Giờ địa phương so với Việt Nam: Mùa đông: -5 giờ; Mùa hè: -4 giờ

Cập nhật tháng 4/2014

***

Lên đầu trang


1 Comment (+add yours?)

  1. Lê ngọc Sơn
    Mar 30, 2012 @ 21:26:48

    Chị Hằng có bản đồ Bungaria to hơn chi tiết hơn hãy post lên cho mọi người cùng đi du lịch khắp đất nươc BUNGARIA bằng trí tưởng tượng.Mọi người cùng quay lại những địa điểm trên đất nước HOA HỒNG mà mình đã từng đặt chân đến благодария много

    Reply

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Free counters!

%d bloggers like this: