Bulgaria

Bulgaria – đất nước gắn bó với một thời tuổi trẻ tươi đẹp của chúng ta.

Bulgaria (tiếng Bulgaria: България), nằm ở Đông Nam Âu, trên bán đảo Bancăng, giáp với Rumania về phía bắc, với Serbia và Cộng hòa Macedonia về phía tây, với Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ về phía nam và cuối cùng giáp với Biển Đen về phía đông.

Dãy núi Balkan chạy từ đông sang tây phía bắc Bulgaria. Người Bulgaria gọi dãy núi này là “Núi Già” (Stara Planina). Sông Dunav tạo thành phần lớn biên giới phía bắc Bulgaria.

Giữa Sofia ở phía tây và Biển Đen là một vùng đồng bằng thấp gọi là thung lũng hoa hồng, trong 3 thế kỷ đã trồng hoa hồng ở khu vực này. Hoa hồng Kazanluk được ưa chuộng và được xuất khẩu do mùi hương riêng biệt của nó, dùng để sản xuất nước hoa. Về phía đông là bờ biển Hắc Hải với những mỏm đá phía bắc và các bãi cát phía nam thu hút du khách khắp thế giới.

Bulgaria có vị trí chiến lược gần eo biển Thổ Nhĩ Kỳ, kiểm soát tuyến đường bộ từ châu Âu tới Trung Đông và châu Á và vì vậy đây là nơi gặp gỡ của Đông và Tây. Vị trí ở giao lộ quan trọng của hai châu lục khiến đây là nơi tranh giành quyền lực trong nhiều thế kỷ. Là một vương quốc độc lập trong nhiều thế kỷ, Bulgaria đã là một cường quốc lớn trong thời gian dài thời Trung cổ.

Bulgaria là một nước có truyền thống lịch sử và văn hóa lâu đời tại châu Âu. Đế quốc Bulgaria thứ nhất hùng mạnh đã từng mở rộng lãnh thổ ra khắp vùng Balkan và có những ảnh hưởng văn hóa của họ ra khắp các cộng đồng người Slav tại khu vực này. Vài thế kỉ sau đó, với sự sụp đổ của Đế quốc Bulgaria thứ hai, đất nước này bị Đế quốc Ottoman đô hộ trong gần 5 thế kỉ sau đó. Năm 1878, Bulgaria trở thành một nước quân chủ lập hiến tự trị nằm trong Đế quốc Ottoman. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai (1939-1945), một chính phủ được Liên Xô ủng hộ đã được lập ở Bulgaria. Bulgaria đã thực hiện chương trình công nghiệp hóa trong thời kỳ những người cộng sản cầm quyền. Chính quyền Bulgaria đã cải cách dân chủ năm 1989. Năm 1990, Bulgaria đã tổ chức tổng tuyển cử nhiều đảng phái và đã đổi tên từ Cộng hòa Nhân dân Bulgaria thành Cộng hòa Bulgaria.

Tiến trình chuyển đổi dân chủ và thể chế kinh tế của Bulgaria không dễ dàng do việc mất thị trường truyền thống Liên Xô. Điều này dẫn tới tình trạng đình đốn kinh tế, lạm phát và thất nghiệp gia tăng. Nhiều người Bulgaria đã rời bỏ đất nước. Quá trình cải cách vẫn tiếp tục và năm 2000, Bulgaria đã bắt đầu đàm phán xin gia nhập EU.

Nước này là thành viên của NATO từ năm 2004 và thành viên Liên minh châu Âu từ năm 2007. Dân số Bulgaria là 7,7 triệu người với thủ đô là Sofia.

Địa lý

Về địa lý và khí hậu, Bulgaria có đặc trưng đáng chú ý ở sự đa dạng với các phong cảnh từ các đỉnh núi tuyết phủ tại Alpine ở Rila, Pirin và dãy núi Balkan cho tới bờ Biển Đen ôn hoà và nắng ấm; từ kiểu đặc trưng lục địa Đồng bằng Danub (Moesia cổ) ở phía bắc tới khí hậu ảnh hưởng Địa Trung Hải tại các thung lũng thuộc Macedonia và tại các vùng đất thấp phía cực nam Thrace.

Về tổng thể Bulgaria có khí hậu ôn hoà, với mùa đông lạnh và mùa hè nóng. Hiệu ứng ngăn chặn của dãy núi Balkan có một số ảnh hưởng trên khí hậu ở khắp nước: bắc Bulgaria có nhiệt độ thấp hơn và có lượng mưa cao hơn các vùng đất thấp phía nam.

Bulgaria gồm các phần của các vùng từng được biết tới ở thời cổ đại là Moesia, Thrace, và Macedonia. Vùng núi non phía tây nam đất nước có hai dãy núi thuộc Alpine — Rila và Pirin — và ở xa hơn về phía đông là Núi Rhodope thấp hơn nhưng dày đặc hơn. Rặng Rila có những đỉnh cao nhất trên Bán đảo Balkan, Musala, ở độ cao 2925m; dãy dài của dãy núi Balkan chạy hướng đông tây qua trung tâm đất nước, phía bắc của Thung lũng Hoa hồng nổi tiếng. Vùng đồi và đồng bằng nằm ở phía đông nam, dọc theo bờ Biển Đen, và dọc theo con sông chính của Bulgaria, sông Danube, ở phía bắc. Strandzha là núi cao nhất ở phía đông nam. Vùng đông bắc Dobrudzha ít có đồi núi. Bán đảo Balkan có tên từ dãy núi Balkan hay Stara planina chạy qua trung tâm Bulgaria và mở rộng tới vùng phía đông Serbia.

Bulgaria có trữ lượng quặng mangan lớn ở phía đông bắc và uranium ở phía tây nam, cũng như một trữ lượng lớn than và các loại quặng đồng, chì, kẽm và vàng. Các loại quặng khác có trữ lượng nhỏ hơn gồm sắt, bạc, chromite, nickel, bismuth và các loại khác. Bulgaria có nhiều khoáng sản phi kim loại như đá muối, thạch cao, kaolin và marble.

Nước này có mạng lưới sông dày đặc với khoảng 540 con sông, đa số chúng -ngoại trừ con sông Danube nổi tiếng— ngắn và có mực nước thấp. Đa số các con sông chảy qua các vùng núi non. Con sông lớn nhất nằm hoàn toàn bên trong lãnh thổ Bulgaria, sông Iskar, có chiều dài 368 km. Các con sông lớn khác gồm sông Struma và sông Maritsa ở phía nam. Các dãy núi Rila và Pirin có khoảng 260 hồ băng; nước này cũng có nhiều hồ nằm trên bò Biển Đen và hơn 2.200 hồ đập. Có nhiều suối nước khoáng, chủ yếu nằm ở phía tây nam và trung tâm đất nước dọc theo các đứt gãy giữa các dãy núi.

Lịch sử

Tiền sử và cổ đại

Các nền văn hóa tiền sử trên những vùng đất Bulgaria gồm văn hóa Hamangia và văn hóa Vinča thuộc thời kỳ đồ đá mới (6.000 tới 3.000 năm trước), văn hóa Varna eneolithic (5.000 năm trước Công Nguyên), và văn hóa Ezero thời kỳ đồ đồng. Niên đại học Karanovo là một thước đo thời tiền sử cho toàn bộ cả vùng Balkan rộng lớn.

Người Thracia, một trong ba tổ tiên chính của người Bulgaria hiện đại, đã để lại các dấu vết vẫn còn lại ở vùng Balkan dù đã trải qua nhiều thiên niên kỷ. Các nền văn hóa Thracia và La Mã đã hòa nhập ở một số mức độ, dù những truyền thống nền tảng của Thracia vẫn không thay đổi. Vì thế tới thế kỷ thứ IV người Thracia có một bản sắc bản xứ hỗn hợp, như người Công giáo Rôma và vẫn duy trì được một số tín ngưỡng ngoại giáo cổ xưa của họ.

Người Slavơ xuất hiện từ quê hương của họ ở đầu thế kỷ thứ VI và tràn ra hầu hết Đông Trung Âu, Đông Âu và Balkans, trong quá trình này họ phân chia thành ba nhóm chính; Tây Slavơ, Đông Slavơ và Nam Slavơ. Một thành phần người Nam Slav ở phía đông đã bị người Thracia đồng hóa trước khi tầng lớp quý tộc Bulgaria tự sáp nhập mình vào Đế quốc Bulgaria đầu tiên.

Đế chế Bulgaria đầu tiên

Năm 632 người Bulgar, có nguồn gốc từ Trung Á, đã hình thành, dưới sự lãnh đạo của Khan Kubrat, một nhà nước độc lập bắt đầu được gọi là Đại Bulgaria. Lãnh thổ của nó mở rộng tới hạ lưu sông Danube ở phía tây, Biển Đen và Biển Azov ở phía nam, Sông Kuban ở phía đông, và Sông Donets ở phía bắc. Áp lực từ Khazars đã dẫn tới sự chinh phục Đại Bulgaria ở nửa sau thế kỷ thứ VII. Người kế vị Kubrat, Khan Asparuh, đã cùng một số bộ tộc Bulgar đi về phía hạ lưu những con sông Danube, Dniester và Dniepr (được gọi là Ongal), và chinh phục Moesia và Tiểu Scythia (Dobrudzha) từ Đế quốc Byzantine, mở rộng hãn quốc mới của mình xa thêm nữa về phía Bán đảo Balkan. Một hiệp ước hòa bình với Byzantine năm 681 và việc thành lập thủ đô Bulgar tại Pliska phía nam Danube đánh dấu sự khởi đầu của Đế quốc Bulgaria đầu tiên. Cùng thời điểm đó, một trong những người anh em của Asparuh, Kuber, đã hòa giải với nhóm Bulgar tại Macedonia hiện nay.

Đế quốc Bulgaria khoảng năm 893 màu xanh tối, với những lãnh thổ giành được cho tới năm 927 màu xanh sáng.

Trong cuộc bao vây Constantinople năm 717–718 vị Khan cai trị Bulgaria Tervel đã thực hiện hiệp ước của mình với những người Byzantine bằng cách gửi binh lính tới giúp dân chúng thành phố thủ đô đế chế này. Theo nhà viết sử Byzantine Theophanes, trong trận đánh quyết định người Bulgaria đã giết 22.000 quân Ả Rập, nhờ vậy loại bỏ được mối đe dọa về một cuộc tấn công tổng lực của Ả Rập vào Đông và Trung Âu.

Ảnh hưởng và sự mở rộng lãnh thổ của Bulgaria gia tăng thêm nữa trong thời cầm quyền của Khan Krum, người vào năm 811 đã có một thắng lợi quyết định trước quân đội Byzantine dưới sự chỉ huy của Nicephorus I trong Trận Pliska. Thế kỷ thứ VIII và thứ IX là thời gian số người Slavơ đông đảo dần đồng hoá những người Bulgar nói tiếng Turkic (hay Proto-Bulgarians).

Năm 864, Bulgaria ở thời vua Boris I Người rửa tội chấp nhận Chính Thống giáo Đông phương.

Bulgaria trở thành một cường quốc châu Âu lớn ở thế kỷ thứ IX và thứ 10, trong khi vẫn đấu tranh với Đế quốc Byzantine để giành quyền kiểm soát Balkans. Việc này diễn ra dưới sự cai trị (852–889) của Boris I. Trong thời trị vì của ông, ký tự Cyrill đã phát triển tại Preslav và Ohrid, được sửa đổi từ ký tự Glagolitic do các giáo sĩ Saints Cyril và Methodius phát minh.

Ký tự Cyrill trở thành căn bản cho sự phát triển thêm nữa của văn hoá. Những thế kỷ sau này, bảng chữ cái này, cùng với ngôn ngữ Bulgaria cổ, đã trở thành ngôn ngữ viết trí thức (lingua franca) cho Đông Âu, được gọi là chữ Slavơ Nhà thờ. Thời kỳ đỉnh cao mở rộng lãnh thổ của Đế quốc Bulgaria -bao phủ hầu hết Balkan— diễn ra dưới thời Hoàng đế Simeon I Vĩ đại, Sa hoàng (Hoàng đế) đầu tiên của Bulgaria, cầm quyền từ năm 893 tới năm 927. Trận Anchialos (917), một trong những trận đánh đẫm máu nhất thời Trung Cổ. đã đánh dấu một trong những thắng lợi quyết định nhất của Bulgaria trước Đế quốc Byzantine.

Tuy nhiên, thành tựu lớn nhất của Simeon là việc phát triển Bulgaria trở thành một nền văn hoá Kitô giáo Slavơ duy nhất và giàu mạnh, trở thành một hình mẫu cho các dân tộc Slavơ khác ở châu Âu và cũng đảm bảo sự tiếp tục tồn tại của nhà nước Bulgaria dù có những lực lượng đe doạ chia rẽ nó thành nhiều mảnh trong suốt lịch sử dài và đầy các cuộc chiến tranh.

Giữa thế kỷ thứ X Bulgaria rơi vào giai đoạn suy tàn, bị kiệt quệ bởi các cuộc chiến tranh với Croatia, những cuộc nổi dậy thường xuyên của người Serbia được Byzantine hậu thuẫn, và những cuộc xâm lược của người Magyar và Pecheneg. Vì những nguyên nhân này, Bulgaria sụp đổ trước cuộc tấn công trực diện của Rus’ năm 969–971.

Sau đó người Byzantine bắt đầu những chiến dịch chinh phục Bulgaria. Năm 971, họ chiếm thủ đô Preslav và bắt Hoàng đế Boris II. Cuộc kháng cự tiếp tục dưới sự lãnh đạo của Sa hoàng Samuil ở các vùng đất phía tây Bulgaria trong vòng gần nửa thế kỷ. Nước này đã tìm cách hồi phục và đánh đuổi người Byzantine trong nhiều trận đánh lớn, giành được quyền kiểm soát hầu hết Balkan và vào năm 991 xâm lược nhà nước Serbia. Nhưng người Byzantine dưới sự lãnh đạo của Basil II (“Kẻ giết người Bulgar”) đã tiêu diệt nhà nước Bulgaria năm 1018 sau thắng lợi tại Kleidion. Sau khi đã đánh bại người Bulgaria, Basil II đã làm mù mắt tới 15.000 tù nhân của trận đánh, trước khi thả họ.

Bulgaria Byzantine

Không có bằng chứng còn lại về bất kỳ một cuộc kháng cự hay nổi dậy lớn nào của người dân hay giới quý tộc Bulgaria trong thập kỷ đầu tiên sau sự thành lập quyền cai trị của Byzantine. Với sự tồn tại của các đối thủ không thể dung hoà với Byzantium như Krakra, Nikulitsa, Dragash và những người khác, sự im ắng này dường như rất khó giải thích. Một số nhà sử học đã giải thích đó là kết quả của một sự nhân nhượng mà Basil II đã trao cho giới quý tộc Bulgaria để giành được lòng trung thành của họ. Ở ngôi vị cao nhất, Basil II đảm bảo tính không thể chia cắt của Bulgaria trong các biên giới địa lý cũ của nó và không chính thức xoá bỏ quyền cai trị địa phương của giới quý tộc Bulgaria, những người đã trở thành một phần của tầng lớp quý tộc Byzantine như là các quan chấp chính hay chỉ huy quân sự. Thứ hai, các tuyên bố đặc biệt (nghị định hoàng gia) của Basil II công nhận tính độc lập của Địa phận Tổng giám mục Bulgaria Ohrid và đặt ra các biên giới của nó, đảm bảo sự tiếp nối của các giáo khu đã tồn tại dưới thời Samuel, tài sản và các quyền ưu tiên của họ.

Người dân Bulgaria đã đứng lên chống lại sự cai trị của Byzantine nhiều lần trong thế kỷ XI và một lần nữa ở đầu thế kỷ XII. Cuộc khởi nghĩa lớn nhất diễn ra dưới sự lãnh đạo của Peter II Delyan (tuyên bố là Hoàng đế tại Belgrade năm 1040 – 1041) và Contantine Bodin (tức Peter III, 1072). Từ giữa thế kỷ XI tới những năm 1150, cả người Norman và người Hungary đều tìm cách xâm lược Bulgaria Byzantine, nhưng không thành công. Giới quý tộc Bulgaria cai trị các tỉnh dưới danh nghĩa Hoàng đế Byzantine cho tới khi Ivan Asen I và Peter IV của Bulgaria bắt đầu một cuộc nổi dậy năm 1185 dẫn tới việc thành lập Đế quốc Bulgaria thứ hai.

Đế chế Bulgaria thứ hai

Từ năm 1185, dưới thời Sa hoàng Ivan Asen II đế chế Bungaria thứ hai tái lập. Bungaria trở thành một cường quốc quan trọng ở Balkan trong hơn hai thế kỷ. Triều đình Asen lập ra thủ đô tại Veliko Turnovo. Kaloyan, triều đại Asen thứ ba, mở rộng quyền cai trị tới Belgrade, Nish và Skopie (Uskub); ông thừa nhận quyền lực tinh thần tuyệt đối của giáo hoàng, và nhận được vương miện hoàng gia từ một phái đoàn của giáo hoàng. Trong trận Adrianople năm1205, Kaloyan đánh bại các lực lượng của Đế chế Latinh và vì thế hạn chế được quyền lực của nó ngay từ những năm đầu thành lập.

Ivan Asen II (1218–1241) mở rộng sự thống trị tới Albania, Epirus, Macedonia và Thrace. Trong thời cầm quyền của ông, nhà nước đã có sự phát triển văn hoá, với những thành tựu nghệ thuật quan trọng của trường phái nghệ thuật Tarnovo. Triều đại Asen chấm dứt năm 1257, và vì những cuộc xâm lược của Tatar (bắt đầu từ cuối thế kỷ XIII), các cuộc xung đột bên trong và những cuộc tấn công thường xuyên của người Byzantine và Hungary, sức mạnh quốc gia dần suy giảm. Hoàng đế Theodore Svetoslav (cầm quyền 1300–1322) tái lập sức mạnh của Bulgaria từ năm 1300 trở về sau, nhưng chỉ mang tính tạm thời. Sự bất ổn chính trị tiếp tục gia tăng, và Bulgaria dần mất lãnh thổ. Điều này dẫn tới một cuộc khởi nghĩa nông dân do người chăn lợn, Ivaylo lãnh đạo, cuối cùng ông đã đánh bại được các lực lượng của Hoàng đế và lên ngôi vua.

Tới cuối thế kỷ XIV, những sự chia rẽ phe phái giữa các lãnh chúa phong kiến Bulgaria (boyars) đã làm suy yếu đáng kể tính thống nhất của Đế quốc Bulgaria thứ hai. Nó tan rã thành ba nhà nước sa hoàng nhỏ và nhiều công quốc bán độc lập đánh lẫn nhau, và cả với người Byzantine, Hungary, Serb, Venetia, và Genoese. Trong những trận đánh này, người Bulgaria thường liên kết với người Thổ Ottoman. Tình hình tranh cãi và chiến đấu gây thiệt cho cả hai bên tương tự cũng diễn ra ở Byzantine và Seriba. Trong giai đoạn 1365–1370, người Ottoman chinh phục hầu hết các thị trấn và pháo đài của Bulgaria ở phía nam dãy Balkan.

Ottoman cai trị

Năm 1393, người Ottoman chiếm Tarnovo, thủ đô của Đế quốc Bulgaria thứ hai, sau một cuộc bao vây kéo dài 3 tháng. Năm 1396, Sa hoàng Vidin mất ngôi sau khi bị quân thập tự chinh Công giáo đánh bại tại Trận Nicopolis. Với sự kiện này, người Ottoman cuối cùng đã chinh phục và chiếm đóng Bulgaria. Một đội quân thập tự chinh Ba Lan–Hungary dưới sự chỉ huy của Władysław III của Ba Lan được lập ra để giải phóng Balkan năm 1444, nhưng người Thổ đã đánh bại họ trong trận Varna.

Ottoman đã tàn sát người Bulgaria, và họ đã mất hầu hết các di vật văn hoá của mình. Chính quyền Thổ phá huỷ hầu hết các pháo đài trung cổ của Bulgaria để ngăn chặn những cuộc nổi dậy. Các thị trấn và khu vực lớn nơi quyền lực của Ottoman chiếm ưu thế có dân cư rất thưa thớt cho tới tận thế kỷ XIX. Giới quý tộc Bulgaria bị tiêu diệt và tầng lớp nông dân trở thành nông nô cho những lãnh chúa Thổ Nhĩ Kỳ. Người Bulgaria phải trả thuế cao hơn rất nhiều so với dân cư Hồi giáo, và hoàn toàn không có sự bình đẳng về pháp lý với họ. Một sự đối phó từ phía người Bulgaria là việc tăng cường hajduk (‘ngoài vòng pháp luật’) truyền thống. Những người Bulgaria đã cải theo Hồi giáo, người Pomaks, vẫn giữ lại ngôn ngữ, y phục và một số phong tục thích hợp với Đạo Hồi. Các nguồn gốc của người Pomaks là chủ đề của một cuộc tranh luận.

Trong hai thập niên cuối cùng của thế kỷ XVIII và những thập niên đầu tiên của thế kỷ XIX Bán đào Bankan tan rã vào tình trạng vô chính phủ. Người Bulgaria gọi giai đoạn này là kurdjaliistvo: các băng nhóm người Thổ có vũ trang được gọi là kurdjalii cướp bóc trong vùng. Tại nhiều khu vực, hàng nghìn nông dân bỏ chạy khỏi vùng nông thôn hoặc tới các thị trấn hoặc (thường xuyên hơn) tới các khu vực đồi núi và rừng rú; một số người thậm chí còn vượt qua Danube tới Moldova, Wallachia hay miền nam nước Nga.

Trong suốt năm thế kỷ cai trị của Ottoman, người Bulgaria đã tổ chức nhiều nỗ lực để tái lập nhà nước của riêng mình. Sự thức tỉnh dân tộc của Bulgaria đã trở thành một trong những yếu tố chính trong cuộc đấu tranh giải phóng. Thế kỷ XIX chứng kiến sự thành lập Hội đồng Trung ương Cách mạng Bulgaria và Tổ chức Cách mạng Nội địa dưới sự lãnh đạo của các nhân vật giải phóng cách mạng như Vasil Levski, Hristo Botev, Lyuben Karavelov và những người khác.

Năm 1876 cuộc khởi nghĩa tháng 4 nổ ra: một trong những cuộc nổi dậy chống Đế quốc Ottoman lớn nhất và được tổ chức tốt nhất của người Bulgaria. Dù bị chính quyền Ottoman đàn áp, người Thổ đã tàn sát khoảng 15.000 người Bulgaria — cuộc nổi dậy (cùng với cuộc nổi dậy tại Bosnia năm 1875) khiến các Cường quốc phải can thiệp trong Hội nghị Constantinople năm 1876, phân định các biên giới của sắc tộc Bulgaria như ở cuối thế kỷ XIX, và tạo lập các thoả thuận pháp lý và chính trị cho việc thành lập hai tỉnh Bulgaria tự trị. Chính phủ Ottoman bác bỏ các quyết định của các Cường quốc. Điều này cho phép Nga tìm kiếm một giải pháp bằng vũ lực mà không có nguy cơ đối đầu quân sự với các Cường quốc khác trong cuộc Chiến tranh Crimea từ năm 1854 tới năm 1856.

Công quốc và Vương quốc

Trong cuộc Chiến tranh Nga-Thổ, 1877-1878, quân đội Nga cùng với một Binh đoàn România và quân tình nguyện Bulgaria đã đánh bại quân Thổ Ottoman. Hiệp ước San Stefano (3 tháng 3 năm 1878), tạo lập một công quốc Bulgaria tự trị. Nhưng các Cường quốc phương Tây nhanh chóng phản đối hiệp ước, lo ngại rằng một quốc gia Slavơ rộng lớn ở Balkan có thể phục vụ cho các lợi ích của Nga. Điều này dẫn tới Hiệp ước Berlin (1878), về một công quốc Bulgaria tự trị, gồm cả Moesia và vùng Sofia. Alexander, Vương công Battenberg, trở thành Vương công đầu tiên của Bulgaria. Hầu hết Thrace trở thành một phần của vùng tự trị Đông Rumelia, theo đó phần còn lại của Thrace và toàn bộ Macedonia quay trở về dưới chủ quyền của người Thổ Ottoman. Sau cuộc chiến tranh Serbia-Bulgaria và sự thống nhất với Đông Rumelia năm 1885, công quốc Bulgaria tuyên bố mình là một vương quốc hoàn toàn độc lập ngày 5 tháng 10 (22 tháng 9 theo Lịch cũ), 1908, dưới quyền cai trị của Ferdinand I của Bulgaria.

Ferdinand, thuộc gia đình công tước Saxe-Coburg-Gotha, trở thành Vương công Bulgaria sau khi Alexander von Battenberg thoái vị năm 1886 sau một cuộc đảo chính do các sĩ quan ủng hộ Nga âm mưu. (Dù nỗ lực phản đảo chính của Stefan Stambolov thành công, Hoàng tử Alexander quyết định không giữ chức vị cai trị Bulgaria mà không có sự đồng thuận của Hoàng đế Aleksandr III của Nga.) Cuộc đấu tranh giải phóng người dân Bulgaria tại Adrianople Vilayet và tại Macedonia tiếp tục trong suốt thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, lên tới đỉnh cao là cuộc Khởi nghĩa Ilinden-Preobrazhenie do Tổ chức Cách mạng Trong nước Macedonia tổ chức năm 1903.

Trong những năm sau khi hoàn toàn độc lập Bulgaria ngày càng trở nên quân sự hoá: Dillon năm 1920 gọi Bulgaria là “Nước Phổ của Balkan” Năm 1912 và 1913, Bulgaria tham gia vào các cuộc chiến tranh Balkan, đầu tiên tham chiến cùng phe với Hy Lạp, Serbia và Montenegro chống lại Đế quốc Ottoman. Cuộc chiến tranh Balkan lần thứ nhất (1912–1913) là một thắng lợi quân sự của Bulgaria, nhưng một cuộc xung đột về việc phân chia Macedonia diễn ra giữa các đồng minh giành chiến thắng. Cuộc chiến tranh Balkan lần thứ hai (1913) đẩy Bulgaria chống lại Hy Lạp và Serbia, cùng với Romania và Thổ Nhĩ Kỳ. Sau khi bị đánh bại trong cuộc chiến này, Bulgaria mất nhiều vùng lãnh thổ đã có được trong cuộc chiến lần thứ nhất, cũng như Miền nam Dobrudzha và nhiều phần của vùng Macedonia.

Trong Thế chiến I, Bulgaria tham chiến với tư cách đồng minh của Liên minh Trung tâm. Mặc dù bước vào cuộc chiến với 1.200.000 quân hùng mạnh (chiếm hơn 1/4 dân số đất nước) và giành thắng lợi quyết định tại Doiran và Dobrich, Bulgaria đầu hàng vào năm 1918. Quân đội Bulgaria phải chịu 300.000 thương vong, gồm 100.000 người chết. Thất bại năm 1918 khiến nước này thêm một lần mất thêm lãnh thổ (Western Outlands cho Serbia, Tây Thrace cho Hy Lạp và vùng Nam Dobrudzha mới tái chinh phục được cho România). Các cuộc chiến tranh Balkan và Thế chiến I dẫn tới một làn sóng tị nạn của hơn 250.000 người Bulgaria từ Macedonia, Đông và Tây Thrace và Nam Dobrudzha.

Trong những năm 1930 nước này gặp phải tình trạng bất ổn chính trị, dẫn tới sự thành lập chính quyền quân sự, cuối cùng biến thành một chế độ độc tài của Vua Boris III (cầm quyền 1918–1943). Sau khi giành lại được quyền kiểm soát Nam Dobrudzha năm 1940, Bulgaria liên minh với Phe Trục, dù họ không tham gia vào Chiến dịch Barbarossa (1941) và không bao giờ tuyên chiến với Liên bang Xô viết. Trong Thế chiến II Phát xít Đức đã cho phép Bulgaria chiếm nhiều vùng của Hy Lạp và của Nam Tư, dù quyền quản lý dân cư và lãnh thổ vẫn nằm trong tay người Đức. Bulgaria là một trong ba quốc gia duy nhất (cùng với Phần Lan và Đan Mạch) cứu được toàn bộ dân cư Do Thái (khoảng 50.000 người) khỏi các trại tập trung Phát xít qua những cách đưa ra lý lẽ và trì hoãn trước các yêu cầu của Đức. Tuy nhiên, Phát xít đã trục xuất hầu như toàn bộ dân Do Thái ở Nam Tư và các lãnh thổ Hy Lạp do Bulgaria chiếm đóng tới Trại tập trung Treblinka ở Ba Lan bị chiếm đóng.

Thế chiến II

Mùa hè năm 1943, Boris III bất ngờ qua đời, và nước này rơi vào tình trạng hỗn loạn chính trị khi cuộc chiến đổi chiều với Phát xít Đức và phong trào Cộng sản giành được nhiều quyền lực. Đầu tháng 9 năm 1944, Liên Xô tuyên chiến với Bulgaria và xâm lược nước này, không gặp phải sự kháng cự nào. Điều này cho phép những người Cộng sản (Đảng Công nhân Bulgaria) lên nắm quyền lực và thành lập một nhà nước Cộng sản. Chế độ mới đưa Bulgaria quay sang chống lại Phát xít.

Cộng hoà Nhân dân Bulgaria

Mặt trận Tổ quốc, một liên minh chính trị do những người Cộng sản chiếm đa số, lên nắm chính phủ năm 1944 và Đảng Cộng sản tăng số thành viên từ 15.000 lên 250.000 người trong sáu tháng sau đó. Họ thiết lập quyền thống trị với cuộc cách mạng ngày 9 tháng 9 năm đó. Tuy nhiên, Bulgaria mãi tới năm 1946 mới trở thành một nhà nước cộng hoà nhân dân. Nước này rơi vào vùng ảnh hưởng của Liên Xô, cùng với Georgi Dimitrov (Thủ tướng từ năm 1946 tới năm 1949) là nhà lãnh đạo có ảnh hưởng nhất của Bulgaria. Nước này thành lập nền kinh tế kế hoạch kiểu Liên Xô, dù một số chính sách theo hướng thị trường đã xuất hiện ở dạng thực nghiệm dưới thời Todor Zhivkov (Tổng bí thư thứ nhất, 1954 tới năm 1989). Tới giữa những năm 1950 tiêu chuẩn sống tăng lên đáng kể, và vào năm 1957 các nông trang viên tập thể lần được hưởng hệ thống hưu bổng và an sinh xã hội nông nghiệp đầu tiên của Đông Âu. Todor Zhivkov là người nắm quyền thực tế ở nước này từ năm 1956 tới năm 1989, vì thế trở thành một trong những lãnh đạo cầm quyền lâu nhất ở Khối Đông Âu. Zhivkov biến Bulgaria trở thành một trong những đồng minh đáng tin cậy nhất của Liên Xô, và gia tăng tầm quan trọng của nó trong Comecon. Con gái ông Lyudmila Zhivkova trở thành nhân vật rất nổi bật trong nước khi khuyến khích di sản văn hoá và nghệ thuật quốc gia trên bình diện quốc tế. Mặt khác, một chiến dịch đồng hoá bắt buộc hồi cuối những năm 1980 với sắc tộc Thổ Nhĩ Kỳ đã khiến khoảng 300.000 người Thổ Bulgaria di cư tới Thổ Nhĩ Kỳ.

Nước Cộng hoà Nhân dân chấm dứt tồn tại năm 1989 như nhiều chế độ Cộng sản khác tại Đông Âu, cũng như chính Liên bang Xô viết, bắt đầu sụp đổ. Phe đối lập buộc Zhivkov và cánh tay phải của ông Milko Balev rời bỏ quyền lực ngày 10 tháng 11 năm 1989.

Cộng hoà Bulgaria

Tháng 2 năm 1990 Đảng Cộng sản tự nguyện dừng độc quyền quyền lực, và vào tháng 6 năm 1990 cuộc bầu cử tự do diễn ra, với chiến thắng thuộc phái ôn hoà của Đảng Cộng sản (đã đổi tên thành Đảng Xã hội Bulgaria — BSP). Tháng 7 năm 1991, nước này thông qua một hiến pháp mới quy định về một Tổng thống khá ít quyền lực và một Thủ tướng có trách nhiệm về lập pháp. Thập niên 1990 là giai đoạn nước này có tỷ lệ thất nghiệp cao, lạm phát cao và không ổn định cũng như sự bất bình của dân chúng.

Từ năm 1989, Bulgaria đã tổ chức các cuộc bầu cử đa đảng và tư nhân hoá nền kinh tế của mình, nhưng những khó khăn kinh tế và một làn sóng tham nhũng khiến hơn 800.000 người Bulgaria, hầu hết là các nhà chuyên môn có trình độ, di cư trong một cuộc “chảy máu chất xám”. Gói cải cách được đưa ra năm 1997 đã khôi phục sự tăng trưởng kinh tế, nhưng dẫn tới sự gia tăng bất bình đẳng xã hội. Bulgaria trở thành một thành viên của NATO năm 2004 và của Liên minh châu Âu năm 2007, và US Library of Congress Federal Research Division đã thông báo trong năm 2006 rằng nước này nói chung có các thành tích tự do ngôn luận và nhân quyền tốt. Năm 2007 A.T. Kearney/Tạp chí Foreign Policy xuất bản Chỉ số Toàn cầu hoá xếp Bulgaria đứng hàng 36 (giữa Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Iceland) trong số 122 quốc gia.

Chính trị

Từ năm 1991 Bulgaria đã là một quốc gia dân chủ, đơn nhất cộng hoà nghị viện hiến pháp. Nước này đã trở thành một thành viên của Liên hiệp quốc năm 1955, và là một thành viên sáng lập của OSCE năm 1995. Với tư cách một Đối tác Tham vấn của Hiệp ước Bắc Cực, Bulgaria đã tham gia vào ban quản lý các lãnh thổ nằm ở phía nam vĩ độ 60° nam. Quốc hội hay Narodno Sabranie (Народно събрание) gồm 240 đại biểu, với nhiệm kỳ 4 năm và được bầu lên bởi nhân dân. Một đảng hay liên minh phải giành tối thiểu 4% phiếu bầu để có đại diện trong nghị viện. Quốc hội có quyền ban hành pháp luật, thông qua ngân sách, lập kế hoạch bầu cử tổng thống, lựa chọn và bãi chức Thủ tướng và các bộ trưởng khác, tuyên chiến, triển khai quân đội ở nước ngoài và thông qua các hiệp ước và thoả thuận quốc tế. Sau cuộc bầu cử năm 2013, đảng Các công dân vì sự phát triển châu Âu của Bulgaria (GERB) đã thắng cử với 97 ghế, 30,5% phiếu bầu phổ thông. Điều này làm cho GERB trở thành đảng cầm quyền đầu tiên liên tiếp thắng lợi trong lịch sử Bulgaria hậu cộng sản. Tuy nhiên, sự thiếu sự ủng hộ từ các đảng khác và được chỉ định thành lập một chính phủ mới, lãnh đạo đảng GERB – Boyko Borisov từ chối đề nghị và vì vậy GERB trở thành đảng đối lập. Tuy nhiên, do sự sụp đổ của chính phủ liên minh vào năm 2014, GERB đã quay trở lại nắm quyền lực sau một cuộc bầu cử ngắn. Hệ thống tư pháp gồm các toà án vùng, quận và phúc thẩm, cũng như một Toà Phá án Tối cao. Ngoài ra, Bulgaria có một Toà án Hành chính Tối cao và một hệ thống toà án quân sự.

Tổng thống Bulgaria là nguyên thủ quốc gia và tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang. Ông cũng là chủ tịch Hội đồng Tư vấn An ninh Quốc gia. Tuy không thể đưa ra bất kỳ điều luật nào ngoài việc đề xuất sửa đổi Hiến pháp, Tổng thống có thể từ chối một điều luật buộc nó phải quay lại trải qua quá trình tiếp tục tranh luận, dù nghị viện có thể bác bỏ sự phủ quyết của tổng thống bằng một đa số đại biểu.

Bulgaria trở thành thành viên của Liên hợp quốc vào năm 1955 và từ năm 1966 đã là thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an ba lần, gần đây nhất là từ năm ​​2002 đến 2003. Là một trong số các quốc gia thành lập Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE) vào năm 1975. Hội nhập châu Âu – Đại Tây Dương là một ưu tiên kể từ khi Cộng sản sụp đổ, mặc dù lãnh đạo Cộng sản cũng có nguyện vọng rời khỏi Hiệp ước Warszawa và gia nhập Cộng đồng châu Âu vào năm 1987. Bulgaria gia nhập NATO ngày 29 tháng 3 năm 2004 và ký Hiệp ước gia nhập Liên minh châu Âu vào 25 tháng 4 năm 2005, được bầu 17 thành viên vào trong Nghị viện châu Âu và trở thành thành viên chính thức vào ngày 1 tháng 1 năm 2007. Ngoài ra, nước này còn có sự hợp tác kinh tế và ngoại giao ba bên với Romania và Hy Lạp, quan hệ tốt với Trung Quốc, Việt Nam và mối quan hệ lịch sử với Nga.

Quân đội

Quân đội Bulgaria gồm ba nhánh chính – lục quân, hải quân và không quân. Ở thời điểm năm 2009, chi tiêu quân sự chiếm khoảng 1.98% GDP. Sau một loạt các cuộc cắt giảm năm 1989, quân đội thường trực nước này chưa tới 45.000 người hiện tại, giảm từ gần 200.000 năm 1988. Các lực lượng dự trữ gồm 303.000 binh lính và sĩ quan. Một số nhánh bán quân sự, như biên phòng và quân đội xây dựng đường sắt có tồn tại và có khoảng 34.000 người. Các lực lượng vũ trang có các thiết bị khá hiện đại của Liên Xô, như máy bay chiến đấu MiG-29, tên lửa đất đối không SA-6 Gainful và SA-10 Grumble và tên lửa đạn đạo tầm ngắn SS-21 Scarab.

Quân đội Bulgaria đã tham gia vào nhiều nhiệm vụ quốc tế tại Campuchia, Bosna và Hercegovina, Kosovo, Afghanistan và Iraq. Ở thời điểm năm 2009, Bulgaria có hơn 700 nhân viên quân sự được triển khai ở nước ngoài, chủ yếu tại Afghanistan (610 người), tại Bosna và Herzegovina (khoảng 100 người) và tại Kosovo (khoảng 50 người).

Năm 2008 Bulgaria đã bãi bỏ nghĩa vụ quân sự với các công dân của họ. Hải quân và không quân Bulgaria đã hoàn toàn chuyên nghiệp hoá năm 2006, và các lực lượng lục quân tiếp nối vào cuối năm 2008. Các lực lượng đặc biệt đã tiến hành các phi vụ với SAS, Delta Force, KSK, và Spetsnaz của Nga. Tháng 4 năm 2006 Bulgaria và Hoa Kỳ đã ký một thoả thuận hợp tác quốc phong theo đó đưa các căn cứ không quân tại Bezmer (gần Yambol) và Graf Ignatievo (gần Plovdiv), trại huấn luyện Novo Selo (gần Sliven), và một trung tâm hậu cần tại Aytos trở thành cơ sở quân sự chung. Tạp chí Foreign Policy magazine coi Căn cứ Không quân Bezmer là một trong sáu địa điểm hải ngoại quan trọng nhất do USAF sử dụng.

Các tỉnh và khu đô thị

Bulgaria là một quốc gia đơn nhất. Kể từ những năm 1880, số lượng các đơn vị quản lý lãnh thổ đã thay đổi từ 7 đến 26. Giữa năm 1987 và năm 1999, cơ cấu hành chính gồm chín tỉnh (oblasti, số ít: oblast). Một cơ cấu hành chính mới được áp dụng song song với sự phân cấp của hệ thống kinh tế[88]. Nó bao gồm 27 tỉnh và một tỉnh thủ đô (Sofia-Grad). Tất cả các trên được đặt tên theo thủ phủ của nó. Các tỉnh chia thành 264 huyện.

Các huyện được điều hành bởi các thị trưởng, những người này được bầu vào nhiệm kỳ bốn năm, và được bầu trực tiếp bởi Hội đồng thành phố. Bulgaria là một quốc gia tập trung cao, nơi Hội đồng Bộ trưởng trực tiếp bổ nhiệm các thống đốc khu vực và tất cả các tỉnh và thành phố phụ thuộc rất nhiều vào nó để tài trợ.

Kinh tế

Bulgaria có một nền kinh tế thị trường tự do mở và đã công nghiệp hoá, với một khu vực tư nhân lớn và khá phát triển cùng một số doanh nghiệp chiến lược thuộc sở hữu nhà nước. Ngân hàng Thế giới xếp hạng nước này là một “nền kinh tế có thu nhập trên trung bình”. Bulgaria đã có tăng trưởng kinh tế nhanh trong những năm gần đây, thậm chí dù nước này vẫn bị xếp hạng là quốc gia thành viên có thu nhập thấp nhất của EU. Theo dữ liệu của Eurostat, GDP theo sức mua tương đương trên đầu người của Bulgaria ở mức 40% mức trung bình của EU năm 2008. Quỹ Tiền tệ Quốc tế ước tính GDP trên đầu người của Bulgaria ở mức $21,242 năm 2016, hay bằng một phần ba mức của Bỉ. Nền kinh tế dựa chủ yếu vào công nghiệp và nông nghiệp, dù khu vực dịch vụ đang đóng góp ngày càng nhiều hơn vào tăng trưởng GDP. Bulgaria sản xuất một lượng lớn hàng chế tạo và nguyên liệu thô như sắt, đồng, vàng, bismuth, than, điện, nhiên liệu dầu mỏ đã tinh lọc, các thiết bị xe hơi, vũ khí và vật liệu xây dựng. Tính đến năm 2016, GDP của Bulgaria đạt 50.446 USD, đứng thứ 81 trên thế giới và đứng thứ 26 châu Âu.

Vì có tai tiếng về nạn tham nhũng cao, và rõ ràng thiếu sự kiên quyết đấu tranh với tình trạng tham nhũng ở các cấp độ cao, Liên minh châu Âu đã cho đóng băng một phần các khoản vốn khoảng €450 triệu và có thể đóng băng thêm nữa nếu chính quyền Bulgaria không thể hiện quyết tâm trong việc đấu tranh chống tham nhũng.

Bulgaria đã chế ngự được tình trạng lạm phát từ cuộc khủng hoảng kinh tế sâu năm 1996–1997, nhưng những con số mới nhất cho thấy tỷ lệ lạm phát đã gia tăng lên tới 12.5% trong năm 2007. Nạn thất nghiệp đã giảm từ hơn 17% hồi giữa thập niên 1990 xuống còn gần 7% năm 2007, nhưng ở một số vùng nông nghiệp tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao. Tình trạng lạm phát ở Bulgaria đồng nghĩa với việc nước này được chấp nhận vào eurozone sẽ không thể diễn ra cho tới năm 2013–2014.

Trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009, tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức khá thấp khoảng 6.3% năm 2008, nhưng đã tăng lên tới 8% năm 2009. Tăng trưởng GDP năm 2008 vẫn ở mức cao (6%), nhưng đã hầu như xuống mức âm năm 2009. Cuộc khủng hoảng có dấu ấn tiêu cực chủ yếu trên ngành công nghiệp, giảm 10% trên chỉ số sản xuất công nghiệp quốc gia, 31% trong công nghiệp mỏ, và 60% trong ngành sản xuất thép và kim loại. Chính phủ dự đoán mức sụt giảm 2.2% của GDP trong năm 2010, với con số thâm hụt ngân sách 0.7%.

Du lịch

Năm 2007 tổng số 5.200.000 du khách đã tới Bulgaria, biến nước này trở thành địa điểm thu hút du khách hàng thứ 39 thế giới. Du khách từ Hy Lạp, Romania và Đức chiếm 40%. Một số lượng lớn du khách Anh (+300.000), Nga (+200.000), Serbia (+150.000), Ba Lan (+130.000) và Đan Mạch (+100.000) tới thăm Bulgaria. Hầu hết trong số họ đều bị lôi cuốn bởi các phong cảnh tươi đẹp và đa dạng, các di sản văn hoá và lịch sử được bảo tồn tốt, và sự tĩnh lặng của các vùng nông thôn và miền núi.

Các địa điểm du lịch chính gồm thủ đô Sofia, các khu resort ven biển như Albena, Sozopol, Bãi cát Vàng và Bãi biển Nắng; và các khu resort mùa đông như Pamporovo, Chepelare, Borovetz và Bansko. Các địa điểm du lịch vùng thôn quê như Arbanasi và Bozhentsi là nơi có các truyền thống sắc tộc được bảo tồn tốt. Các địa điểm thu hút du khách khác gồm Tu viện Rila từ thế kỷ thứ X và lâu đài Euxinograd thế kỷ XIX.

Khoa học, công nghệ và viễn thông

Bulgaria chỉ chi 0.4% GDP cho nghiên cứu khoa học, hay khoảng $ 376 triệu năm 2008. Nước này có truyền thống mạnh trong toán học, thiên văn học, vật lý và công nghệ hạt nhân và giáo dục định hướng khoa học, và có kinh nghiệm khá lớn trong nghiên cứu dược. Viện Hàn lâm Khoa học Bulgaria (BAS), cơ quan khoa học hàng đầu của đất nước, tụ tập hầu hết các nhà nghiên cứu của Bulgary làm việc.

Các nhà khoa học Bulgaria đã có nhiều phát minh và sáng tạo quan trọng mang tính cách mạng trên bình diện thế giới: máy tính điện tử số đầu tiên của thế giới, do nhà khoa học người Mỹ gốc Bulgaria John Vincent Atanasoff thiết kế; đồng hồ điện tử số đầu tiên (Peter Petroff), chiếc máy bay ném bom đầu tiên (đại uý Simeon Petrov); lý thuyết động lực phân tử về hình thành tinh thể và phát triển tinh thể (của Ivan Stranski) và photoelectrets (Georgi Nadjakov), đây là một bước quan trọng trong việc phát triển máy photocopy đầu tiên. Bulgaria cũng là quốc gia thứ 6 trên thế giới có nhà du hành đi vào vũ trụ. Thiếu tướng Georgi Ivanov trên tàu Soyuz 33 (1979), tiếp đó là trung tá Alexander Alexandrov trên tàu Soyuz TM-5 (1988).

Công nghệ thông tin là một trong số các nhánh khoa học phát triển nhất của Bulgaria, và vào những năm 1980 nước này đã được gọi là Thung lũng Silicon của Khối Đông Âu. Theo báo cáo của Brainbench Global IT, Bulgaria xếp thứ nhất ở châu Âu về số chuyên gia IT trên đầu người và đứng thứ 8 thế giới về tổng số chuyên gia ICT, vượt xa một số nước có quy mô dân số lớn hơn nhiều. Ngoài ra, Bulgaria cũng là nước có siêu máy tính mạnh nhất ở Đông Âu (trong top 100 trên thế giới). Những năm sau 2000 đã chứng kiến một sự gia tăng mạnh số lượng người sử dụng internet: năm 2000, có 430.000 người, năm 2004 – 1.545.100, và năm 2006 – 2.2 triệu người.

Tập tin:Rozhen dome.jpg

Tháp chứa kính thiên văn 200cm tại Đài thiên văn Rozhen, đài thiên văn lớn nhất ở Đông Nam Âu.

Vận tải

Bulgaria có vị trí địa lý chiến lược có tầm quan trọng độc nhất. Từ những thời cổ đại, nước này đã là ngã tư đường chính giữa châu Âu, châu Á và châu Phi. Năm trong số mười Hành lang xuyên châu Âu chạy qua lãnh thổ nước này, tổng chiều dài đường bộ của Bulgary là 102.016km, trong đó có 93.855km trải nhựa và 441km là đường cao tốc. Nước này có nhiều kế hoạch xây dựng đường cao tốc, đang được tiến hành hay đã xây dựng một phần: Đường cao tốc Trakiya, đường cao tốc Hemus, đường cao tốc Cherno More, đường cao tốc Struma, đường cao tốc Maritza và đường cao tốc Lyulin.

Bulgaria cũng có 6500km đường sắt, hơn 60% đã được điện khí hoá. Có một dự án trị giá €360.000.000 triệu để hiện đại hoá và điện khí hoá tuyến đường sắt Plovdiv–Kapitan Andreevo. Tuyến đường sắt cao tốc duy nhất trong vùng, giữaSofia vàVidin, sẽ đi vào hoạt động năm 2017, với chi phí €3.000.000.000.

Giao thông đường không đã phát triển khá toàn diện. Bulgaria có sáu sân bay quốc tế chính  — tại Sofia, Burgas, Varna, Plovdiv, Rousse và Gorna Oryahovitsa. Sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ năm 1989, hầu hết các sân bay nội địa nhỏ đều bị bỏ hoang không sử dụng khi các chuyến bay nội địa giảm sút. Nước này duy trì nhiều sân bay quân sự và nông nghiệp. 128 trong tổng số 213 sân bay ở Bungary có đường băng cứng.

Các cảng quan trọng nhất và có lượng vận tải hàng hoá lớn nhất là Varna và Burgas. Burgas, Sozopol, Nesebar và Pomorie là những cảng hỗ trợ cho các đội tàu đánh cá. Các cảng lớn trên Sông Danube gồm Rousse và Lom (phục vụ cho thủ đô).

Nhân khẩu

Trong những năm gần đây Bulgaria là một trong những nước có tỷ lệ tăng dân số thấp nhất thế giới. Tăng trưởng dân số âm đã diễn ra từ đầu thập niên 1990, vì sụp đổ kinh tế và di cư cao. Năm 1989 dân số nước này có 9.009.018 người, giảm dần xuống còn 7.950.000 năm 2001 và 7.606.000 năm 2009. Tính đến năm 2009 Dân số có tỷ lệ sinh 1.48 trẻ em trên phụ nữ năm 2008. Tỷ lệ sinh cần đạt mức 2.2 để tái lập mức tăng dân số tự nhiên.

Đa số người Bulgaria (82,6%) thuộc, ít nhất về danh nghĩa, Giáo hội Chính thống Bulgaria. Được thành lập năm 870 thuộc Tòa Thượng phụ Constantinople (nơi có Tổng giám mục, tăng lữ và các bản kinh từ đây), Giáo hội Chính thống này có vị thế độc lập từ năm 927. Các tôn giáo lớn khác gồm Hồi giáo (12,2%), các giáo phái Tin lành (0,8%) và Công giáo La Mã (0,5%); với các giáo phái khác, vô thần và không tuyên bố chiếm xấp xỉ 4,1%. Bulgaria chính thức là một nhà nước thế tục và Hiến pháp đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng nhưng coi Chính thống là một tôn giáo chính thức. Trong cuộc điều tra dân số năm 2001, 82,6% người dân tuyên bố mình là tín đồ Chính Thống giáo, 12,2% Hồi giáo, 1.2% các giáo phái Kitô giáo khác, 4% các tôn giáo khác (Phật giáo, Đạo giáo, Ấn Độ giáo, Do Thái giáo).

Hồi giáo tới nước này vào cuối thế kỷ XIV sau cuộc chinh phục của người Ottoman. Ở thế kỷ XVI và XVII, các nhà truyền giáo từ Rôma đã truyền đạo tại Paulicians thuộc các quận Plovdiv và Svishtov khiến nơi này có thêm nhiều tín hữu Giáo hội Công giáo Rôma. Năm 2009, cộng đồng Do Thái tại Bulgaria, từng là một trong những cộng đồng lớn nhất châu Âu, có chưa tới 2.000 người.

Theo cuộc điều tra dân số năm 2001, dân số Bulgaria gồm chủ yếu sắc tộc Bulgaria (83,9%), với hai cộng đồng thiểu số chính, người Thổ (9,4%) và Roma (4,7%). Trong số 2.0% còn lại, 0.9% gồm khoảng 40 cộng đồng thiểu số nhỏ hơn, chủ yếu là người Nga, người Armenia, người Ả Rập, người Vlach, người Do Thái, người Tatar Krym và Sarakatsani (về mặt lịch sử cũng được gọi là người Karakachan). 1,1% dân số không tuyên bố sắc tộc trong cuộc điều tra năm 2001.

Cuộc điều tra năm 2001 định nghĩa một nhóm sắc tộc là một “cộng đồng người, liên quan tới nhau bởi nguồn gốc và ngôn ngữ, và giống nhau về cách thức sống và văn hoá”; và tiếng mẹ đẻ của một người là “tiếng một người nói tốt nhất và thường được sử dụng để trao đổi trong gia đình (hộ)”.

Giáo dục

Giáo dục tại Bulgaria thuộc quyền quản lý của Bộ giáo dục và khoa học. Giáo dục toàn bộ thời gian là bắt buộc với mọi trẻ em trong độ tuổi 7 tới 16. Trẻ 16 tuổi có thể ghi tên vào các trường học theo định hướng của cha mẹ. Giáo dục tại các trường nhà nước là miễn phí, ngoại trừ tại các cơ sở cao học, trường cao đẳng và đại học. Chương trình dựa chủ yếu ở tám môn chính: tiếng Bulgaria và văn học, ngoại gnữ, toán học, công nghệ thông tin, hoa học xã hội và dân sự, khoa học tự nhiên và sinh thái, âm nhạc và nghệ thuật, giáo dục thể chất và thể thao.

Chi tiêu công cho giáo dục thấp hơn nhiều so với mức trung bình của Liên minh Châu Âu. Các tiêu chuẩn giáo dục từng rất cao, nhưng đã xấu đi đáng kể trong thập kỷ qua. Bulgaria là một trong những nước học sinh có điểm số cao nhất trên thế giới về tỷ lệ đọc chữ năm 2001, hoạt động tốt hơn so với các đối tác Canada và Đức; đến năm 2006, điểm số về môn đọc, toán và khoa học đã giảm xuống. Chương trình đánh giá sinh viên (PISA) nghiên cứu năm 2015 cho thấy 41,5% số học sinh lớp 9 là không biết đọc chữ, toán và khoa học. Tỷ lệ biết chữ trung bình ở mức 98,4% không có sự khác biệt đáng kể giữa giới tính. Bộ Giáo dục và Khoa học tài trợ một phần cho các trường công lập, cao đẳng và đại học, đặt tiêu chuẩn cho sách giáo khoa và giám sát quá trình xuất bản. Quá trình giáo dục trải qua 12 lớp, trong đó, lớp một đến lớp tám là cấp tiểu học và từ chín đến mười hai là cấp trung học. Giáo dục đại học bao gồm bằng cử nhân 4 năm và bằng thạc sĩ 1 năm. Cơ sở giáo dục bậc nhất của Bulgaria là Đại học Sofia.

Văn hóa

Một số nền văn minh cổ, đáng chú ý nhất là của người Thrace, Hy Lạp, La Mã, Slav, và Bulgar, đã để lại dấu ấn trong văn hoá, lịch sử và di sản của Bulgaria. Các đồ tạo tác Thrace gồm nhiều ngôi mộ và đồ vàng bạc, trong khi người Bulgar cổ để lại dấu vết của họ trong văn hoá và kiến trúc sơ kỳ. Cả đế chế Bulgaria thứ nhất và thứ hai đều là những đầu mối của châu Âu Slav trong hầu hết thời Trung Cổ, để lại ảnh hưởng đáng chú ý về văn hoá và văn học trong thế giới Slavơ Chính thống phía đông qua các trường phái Preslav và Trường phái Văn học Ohrid. Bảng chữ cái Cyrill, được sử dụng trong nhiều ngôn ngữ Đông Âu và châu Á, có nguồn gốc từ hai trường phái này ở thế kỷ X Công Nguyên.

Ngày nay Bulgaria có 10 Địa điểm di sản thế giới của UNESCO – bức chạm nổi đá đầu thời kỳ Trung Cổ Madara Rider, hai lăng mộ Thrace (tại Sveshtari và Kazanlak), Nhà thờ Boyana, Tu viện Rila và Các Nhà thờ Đá Ivanovo, Vườn Quốc gia Pirin và Khu Dự trữ Thiên nhiên Srebarna, cũng như thành phố cổ Nesebar. Một đồ tạo tác lịch sử quan trọng khác là kho tàng vàng chế tác cổ nhất thế giới, có niên đại từ thiên niên kỷ thứ 5 trước Công Nguyên, từ Nghĩa trang Varna.

Âm nhạc

Nước này có một truyền thống âm nhạc lâu dài, bắt nguồn từ đầu thời kỳ Trung Cổ. Một trong những nhà soạn nhạc nổi tiếng sớm nhất được biết ở Châu Âu Trung Cổ là Yoan Kukuzel (khoảng 1280–1360). Âm nhạc dân gian quốc gia có đặc trưng riêng biệt và sử dụng nhiều nhạc cụ truyền thống, như gudulka (гъдулка), gaida (гайда) – kèn túi, kaval (кавал) và tupan (тъпан). Bulgaria cũng có một di sản nghệ thuật thị giác giàu có, đặc biệt trong tranh tường, mural và các biểu tượng, nhiều tác phẩm trong số này là tác phẩm của Trường phái nghệ thuật Tarnovo.

Thể thao

Bulgaria tham gia vào cả Olympic mùa hè và mùa đông, và lần đầu tiên họ xuất hiện trong một kỳ Olympic hiện đại là vào năm 1896, khi vận động viên thể dục người Thuỵ Sĩ Charles Champaud đại diện cho nước này. Kể từ đó, các vận động viên Bulgaria đã giành được 52 huy chương vàng, 89 bạc và 83 đồng, xếp thứ 25 trong bảng huy chương mọi thời đại.

Nâng tạ là môn thể thao đặc trưng của Bulgaria. Huấn luyện viên Ivan Abadzhiev đã phát triển các phương pháp tập luyện sáng tạo đã tạo ra nhiều nhà vô địch Olympic và thế giới Bulgaria trong môn cử tạ từ những năm 1980. Các vận động viên Bulgaria cũng đã xuất sắc trong môn đấu vật, đấm bốc, thể dục dụng cụ, bóng chuyền và tennis. Stefka Kostadinova là người giữ kỷ lục thế giới trị vì trong môn nhảy cao của nữ ở độ cao 2,09 mét (6 feet 10 inch), đạt được trong Giải vô địch thế giới năm 1987. Grigor Dimitrov là tay vợt người Bulgaria đầu tiên trong Top 3 ATP Rankings.

Bóng đá là môn thể thao phổ biến nhất ở nước này bởi một tỷ lệ đáng kể. Thành tích tốt nhất của đội tuyển bóng đá quốc gia là một trận bán kết tại FIFA World Cup 1994, khi đội được dẫn đầu bởi tiền đạo Hristo Stoichkov. Stoichkov là cầu thủ người Bulgaria thành công nhất mọi thời đại; ông đã được trao Chiếc giày vàng và Quả bóng vàng và được coi là một trong những người giỏi nhất thế giới khi chơi cho FC Barcelona vào những năm 1990. Dimitar Berbatov là một trong những cầu thủ bóng đá Bulgaria nổi tiếng nhất thế kỷ XXI. Các câu lạc bộ nổi tiếng trong nước gồm PFC CSKA Sofia (được coi là câu lạc bộ hàng đầu đất nước) và PFC Levski Sofia, là câu lạc bộ bóng đá Bulgaria đầu tiên tham gia UEFA Champions League hiện đại năm 2006/2007. CSKA và Levski, cả hai đều có trụ sở tại Sofia, là những câu lạc bộ thành công nhất trong nước và là đối thủ lâu đời. Ludogorets rất đáng chú ý vì đã tiến lên từ giải hạng tư địa phương đến vòng bảng UE15 Champions League 2014 chỉ trong chín năm. Được xếp thứ 39 vào năm 2018, đây là câu lạc bộ được xếp hạng cao nhất của Bulgaria tại UEFA.

Bulgaria có thành tích cao tại các môn thể thao như bóng chuyền, vật, cử tạ, bắn súng, thể dục, cờ vua, và gần đây là vật sumo và tennis. Đội tuyển bóng chuyền nam quốc gia Bulgaria là một trong những đội tuyền hàng đầu châu Âu và thế giới, xếp hạng 4 thế giới theo bảng xếp hạng năm 2009 của FIVB.

Tập tin:Kotooshu winning Emperor's Cup 2008 May.jpg

Vận động viên Sumo Kotoōshū (Kaloyan Mahlyanov), người châu Âu đầu tiên được nhận Cúp Hoàng Đế (tháng 5 năm 2008).

Theo Wikipedia.org

.

Quốc ca Bulgaria

Мила Родино

1. Горда Стара планина,
до ней Дунава синей,
слънце Тракия огрява,
над Пирина пламеней.

Chorus:

Мила Родино,
ти си земен рай,
твойта хубост, твойта прелест,
ах, те нямат край.

Мила Родино,
ти си земен рай,
твойта хубост, твойта прелест,
ах, те нямат край.

2. Паднаха борци безчет
за народа наш любим,
майко, дай ни мъжка сила
пътя им да продължим.

Мила Родино (Tổ quốc yêu dấu) là Quốc ca Bulgaria từ năm 1964, phần nhạc và lời dựa trên bài hát “Горда Стара планина” (Dãy núi già Stara Planina kiêu hãnh) được viết và sáng tác vào năm 1885 bởi Svetan Rdoslavov, một sinh viên Bulgaria, trên đường ông đi chiến đấu trong cuộc chiến Serbi-Bulgari. Bài hát đã trải qua nhiều sửa đổi so với nguyên bản, mới nhất là vào năm 1990, có một câu trong bài hát gốc nói về tình hữu nghị với Nga đã bị gỡ bỏ.

Từ năm 1886 đến năm 1947 Quốc ca của Bulgaria là bài “Шуми Марица“.

Từ năm 1947 – 1950 tạm dùng bài “Републико наша, здравей !“.

Từ năm 1950 – 1964 là bài “Българийо мила”

***

CỘNG HÒA BUNGARI

I. KHÁI QUÁT CHUNG:

1. Tên nước: Cộng hòa Bungari (The Republic of Bulgaria)

2. Thủ đô: Xô-phi-a (Sofia) gần 1,4 triệu dân

3. Ngày Quốc khánh: 3/3 (Ngày giải phóng Bungari khỏi ách đô hộ của Thổ Nhĩ Kỳ 3/3/1878)

4. Vị trí địa lý: Nằm ở Đông – Nam Châu Âu, giữa bán đảo Ban-căng, phía Bắc giáp Ru-ma-ni, phía Nam giáp Hy Lạp, phía Đông – Nam giáp Thổ Nhĩ Kỳ, phía Đông giáp Biển Đen, phía Tây giáp Xéc-bia, phía Tây Nam giáp Ma-xê-đô-ni-a

5. Diện tích: 110.910 km2

6. Khí hậu: ôn đới, nhiệt độ trung bình 10,5oC

7. Dân số: 7,56 triệu người, tính đến năm 2009 (trong đó người Bungari: 83,9%, người Bungari gốc Thổ: 9,4%, người Di-gan: 4,7%. 71% dân số sống ở thành phố)

8. Dân tộc: Xla-vơ

9. Ngôn ngữ: Tiếng Bungari

10. Đơn vị tiền tệ: Lê-va (Leva). Tỷ giá 1 USD = 1,39 Leva (4/2011)

11. Tôn giáo: 83% dân số theo đạo Cơ đốc Chính thống (Orthodox), 12% theo đạo Hồi, 1% dân theo đạo Thiên chúa và 4% theo các đạo khác

12. Thể chế: Theo chế độ Cộng hòa Đại nghị. Tổng thống do dân bầu trực tiếp bằng bỏ phiếukín, nhiệm kỳ 5 năm. Quốc hội 1 Viện do dân bầu, nhiệm kỳ 4 năm. Thủ tướng do Tổng thống đề cử (sau khi đảng có nhiều ghế nhất trong Quốc hội thắng cử và giới thiệu ứng cử Thủ tướng) vàQuốc hội phê chuẩn.

II. QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM:

1. Quan hệ chính trị – ngoại giao

Ngày 8/2/1950 hai nước lập quan hệ ngoại giao. Từ 1950 đến 1989 quan hệ hai nước luôn phát triển tốt đẹp. Bạn đã dành cho ta sự ủng hộ và giúp đỡ quý báu về tinh thần và vật chất trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ đất nước. Đặc biệt, Bạn đã xóa nợ cho ta 147 triệu Rúp (so với số dân hơn 8 triệu); như vậy Bulgaria đứng đầu trong số các nước XHCN cũ về việc hỗ trợ vật chất cho Việt Nam tính theo đầu người của Bulgaria từ năm 1975 về trước.

Từ năm 1990 do Bulgaria thay đổi thể chế, quan hệ hai nước bị chững lại một thời gian ngắn. Từ 1993, quan hệ dần dần được khôi phục. Chính quyền hiện nay ở Bulgaria tiếp tục duy trì và phát triển quan hệ hợp tác truyền thống với ta.

Các chuyến thăm cao cấp gần đây

– Phía Bun-ga-ri thăm Việt Nam có: Chủ tịch Quốc hội Gerdzikov(03/2004); Thủ tướng Bun-ga-ri S. Stanisev (11/2006), Phó Tổng thống A. Marin (04/2007), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (10/2007) Chủ nhiệm Ủy ban đối ngoại Quốc hội S. Passi (03/2008), Bộ trưởng Hành chính Nhà nước N. Vasillev (04/2008), Bộ trưởng Lao động Maslarova (04/2008); Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao I. Kanfin (11/2008); Tổng thống G. Parvanov (01/2009); Thứ trưởng thứ nhất Bộ ngoại giao Ma-rin Rai-cốp (3/2010); Chủ tịch Quốc Hội Tsetska Tsacheva (4/2012); Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính Simeon Dyankov (10/2012). Tháng 10/2013: Tổng thống Bulgari sang thăm Việt Nam

– Về phía Việt Nam thăm Bun-ga-ri có: Thủ tướng Phan Văn Khải (09/2000), Phó Chủ tịch Quốc hội Trương Quang Được (04/2004); Trưởng Ban Đối ngoại Trung ương Đảng Nguyễn Văn Son (06/2004); Chủ tịch Hội đồng nhân dân Tp Hà Nội Phùng Hữu Phú (07/2004); Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa (10/2005); Trưởng ban Khoa giáo Trung ương Đỗ Nguyên Phương (02/2006); Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phúc Thanh (01/2007), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng (06/2008), Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng (07/2010); Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan (10/2010), Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân (09/2012)

– Đến tháng 11/2010, hai bên đã ký 21 Hiệp định và các văn kiện hợp tác giữa 2 nước tạo cơ sở pháp lý mới cho quan hệ, trong đó có Hiệp định xử lý hai khoản nợ và Hiệp định miễn thị thực cho người mang hộ chiếu ngoại giao và hộ chiếu công vụ.

2. Cộng đồng người Việt Nam tại Bungary

Hiện có khoảng hơn 1040 người Việt Nam sinh sống tại Bun-ga-ri, chủ yếu kinh doanh hàng may mặc, thủ công mỹ nghệ hoặc nông phẩm.

3. Hợp tác thương mại song phương:

Tháng 3/2001 hai bên ký Hiệp định mới về kinh tế-thương mại, dành cho nhau quy chế tối huệ quốc. Về hợp tác thương mại, so với các đối tác của Việt Nam trong khối EU, Bungari tuy là một đối tác truyền thống, tin cậy nhưng kim ngạch thương mại hai chiều thời gian qua thực sự còn quá khiêm tốn so với tiềm năng và mong muốn của hai bên. Năm 2012, trao đổi thương mại hai chiều giữa Việt Nam – Bungari chỉ đạt gần 59 triệu USD. Trong đó, Việt Nam xuất khẩu vào Bungari gần 38 triệu USD và nhấp khẩu từ Bungari hơn 21 triệu USD. Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, năm 2013 kim ngạch thương mại hai chiều có tăng nhưng cũng chỉ đạt hơn 67 triệu USD, trong đó Việt Nam xuất khẩu hơn 43 triệu USD và nhập khẩu từ Bulgari hơn 24 triệu USD.

Nếu xét về con số tuyệt đối, quan hệ thương mại hai nước còn rất thấp. Tuy nhiên, nếu xét về tốc độ tăng trưởng thì kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam – Bulgari so với các nước EU vẫn đạt mức khá. Kim ngạch thương mại hai chiều vẫn liên tục tăng từ 15-20% trong những năm gần đây mặc cho nền kinh tế hai nước cũng như thế giới vẫn trong giai đoạn khó khăn. Đây là tín hiệu vui trong quan hệ thương mại hai nước.

Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là: gạo, hạt điều, cà phê, hạt tiêu, thủy sản đông lạnh, các sản phẩm từ cao su, đồ da, may mặc, giày dép, túi xách, vily, ô dù, máy tính và phụ kiện linh kiện điện tử và nhập khẩu từ Bungari: thuốc tân dược, thuốc bảo vệ thực vật, lúa mỳ, rượu nho, thức ăn gia súc, nguyên liệu và phụ gia chế biến thức ăn gia súc, máy móc thiết bị và dụng cụ cơ khí.

4. Hợp tác đầu tư:

Về hợp tác trong lĩnh vực đầu tư, hiện tại Bungari có 8 dự án đầu tư trực tiếp tại Việt Nam với tổng số vốn đăng ký 31,4 triệu USD, trong đó có 5 dự án 100% vốn nước ngoài với trị giá đầu tư 14,96 triệu USD, chiếm hơn 50% tổng vốn đầu tư tại Việt Nam, đứng thứ 54 trong tổng số 92 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Các dự án đầu tư bao gồm các lĩnh vực: may mặc, chế biến thực phẩm, công nghệ thông tin. Các nhà đầu tư Bungari hiện đang hoạt động tại 5 địa phương thuộc các tỉnh: Lâm Đồng, Thừa Thiên Huế, Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh.

5. Hợp tác trong các lĩnh vực khác

Trước năm 1990, Bun-ga-ri đã giúp đào tạo cho Việt Nam 3600 cán bộ các ngành và khoảng 23 nghìn công nhân, lao động.
– Tháng 2/2001 hai bên ký Hiệp định nối lại hợp tác giáo dục và Chương trình hợp tác 2001-2003.
– Tháng 2/2008 hai bên ký biên bản ghi nhớ về hợp tác xuất khẩu lao động; từ 2008-2009 chỉ đưa gần 200 người sang Bungari và do tác động khủng hoảng kinh tế, đa số đã về nước 2009, hiện chỉ còn gần 20 người.

– Tháng 11/2007, hai bên ký Chương trình hợp tác giáo dục cho giai đoạn 2007 – 2009.
– Hiện hai bên đang đàm phán để ký tiếp Chương trình hợp tác giáo dục từ 2010– 2014.
– Đến tháng 6/2010, có 37 lưu học sinh Việt Nam đang học tại Bungari theo các chương trình hợp tác giữa hai nước.

c. Hợp tác địa phương:

Thúc đẩy hợp tác giữa các thủ đô Hà Nội – Xôphia; thành phố Hồ Chí Minh – Plovdiv; Quảng Ninh – Burgas; Hải phòng và Varna; Đà Lạt – Kazanlac; Thái Bình – Pa-dát-đơ-díc.

7.  Địa chỉ đại sứ quán:

Đại sứ quán Cộng hòa Bungari tại Hà Nội:

Địa chỉ: Số 5, Phố Núi Trúc, khu Vạn Phúc – Hà Nội, Việt Nam
Điện thoại: (84-04) 38452908

Fax: (84-04) 38460856

E-mail: bgremb13@fpt.vnbgremb14@fpt.vn

Website: www.mfa.bg/hanoi

Đại sứ quán Việt Nam tại Bungari:

Địa chỉ : Phố Jetvarka, No 1, Sofia 1113

Điện thoại : +359-2-9632609/9632743

Fax : +359-2-9633658

Email : vnemb.bg@mofa.gov.vn

Giờ địa phương so với Việt Nam: Mùa đông: -5 giờ; Mùa hè: -4 giờ

Cập nhật tháng 4/2014

***

Lên đầu trang

 

1 Comment (+add yours?)

  1. Lê ngọc Sơn
    Mar 30, 2012 @ 21:26:48

    Chị Hằng có bản đồ Bungaria to hơn chi tiết hơn hãy post lên cho mọi người cùng đi du lịch khắp đất nươc BUNGARIA bằng trí tưởng tượng.Mọi người cùng quay lại những địa điểm trên đất nước HOA HỒNG mà mình đã từng đặt chân đến благодария много

    Reply

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Free counters!

%d bloggers like this: