Công nhân Việt Nam và Mông Cổ đã xuất hiện ở Bulgaria như thế nào?


Ảnh: Chủ tịch Hồ Chí Minh trong chuyến thăm Bulgaria năm 1957.

Năm 1970 hệ thống xã hội chủ nghĩa trong mối quan hệ thế giới phát triển và được nâng tầm với nhiều quốc gia mới trên thế giới. Dưới sự lãnh đạo của Liên Xô, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới vươn tới  những chân trời mới với các cuộc cách mạng ở Châu Phi và cả ở Viễn Đông. Một ví dụ điển hình cho điều này là cuộc chiến tranh Việt Nam, nơi mà các lực lượng giải phóng dân tộc của Bắc Việt với viện trợ của Liên фмон Xô, Mông Cổ, Bắc Triều Tiên và Lào chiến thắng chống lại người Mỹ.

Năm 1973, Mỹ rút ra khỏi Việt Nam, sau đó phát hiện những tiết lộ rằng Quân đội Mỹ đã sử dụng chất độc chống lại thường dân Việt Nam hòa bình và do đó bị xếp ngang Đức Quốc xã và phát xít Ý trong Thế chiến thứ hai, mối quan hệ của cộng đồng thế giới với sự xâm lược của Hoa Kỳ thậm chí còn trở nên chống Mỹ hơn.

Tuy nhiên, một vấn đề lớn xuất hiện trước các đồng minh XHCN của Việt Nam. Dân số Việt Nam sống trên một lãnh thổ nhỏ, nhưng vô cùng đông dân và đang tăng dần. Liệu lãnh thổ của Việt Nam có đủ để tiếp nhận sự hội nhập kinh tế với toàn bộ dân số Việt Nam trong một quốc gia thống nhất. Câu hỏi tăng lên sau khi năm 1975 miền Bắc và miền Nam Việt Nam thống nhất thành một nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Nhưng vấn đề này động chạm không chỉ đến Việt Nam. Tại phiên họp của Hội đồng tương trợ kinh tế năm 1970 tại Moscow, những vấn đề tương tự cũng được đặt ra về việc một số quốc gia trong Thế giới thứ ba không thể phân định được việc thiết lập kinh tế xã hội của dân số trên lãnh thổ của họ – tài nguyên nhân khẩu của các quốc gia này là rất lớn, điều kiện kinh tế (đặc trưng bởi sự phát triển thấp và lao động không có kỹ năng hoặc tay nghề thấp) không thể đáp ứng nhu cầu của tất cả. Các nước như vậy ở Đông Á được liệt kê là Việt Nam, Mông Cổ và Bắc Triều Tiên.

Vấn đề khan hiếm đất đai đối với sự phát triển bình thường của tiềm năng dân số vốn đã cũ – vào đầu thế kỷ 20, tình trạng cũng như vậy ở Nhật Bản, nơi lãnh thổ nhỏ và dân số ngày càng tăng. Dòng người nhập cư hướng về Mỹ, nhưng Tổng thống Theodore Roosevelt soạn thảo một đạo luật để ngăn chặn dòng người di cư Nhật Bản. Kết quả thu được đã rõ – lệnh cấm của nước Mỹ đối với người di cư Nhật vào lãnh thổ của họ mang lại cho Nhật Bản những con át chủ bài để tìm giải pháp cho các vấn đề nhân khẩu học ở nơi khác – quyết định kế hoạch của họ, như xâm lược Trung Quốc, tạo ra Mãn Châu bù nhìn, xâm lược chống lại Mông Cổ và Liên Xô, đỉnh điểm là sự thất bại của người Nhật tại Halkhin Gol 1939, ý tưởng về một không gian sống Nhật Bản bằng cách tạo ra Đại Đông Á và liên minh với Hitler và Mussolini trong Thế chiến thứ hai.

Tách biệt vấn đề này tại phiên họp của Hội đồng tương trợ kinh tế CEA khẳng định rằng lực lượng lao động của Thế giới thứ ba không thể thực hiện các nhiệm vụ của mình với nhịp độ học vấn trên chính lãnh thổ của mình, và do đó cần phải tiến hành giáo dục và thực hành công việc ở châu Âu – ở các nước xã hội chủ nghĩa phát triển. Và như vậy ý tưởng đưa người lao động từ thế giới thứ ba vào các nước dân chủ xã hội châu Âu ra đời. Bốn nước chủ yếu đã chấp nhận lao động nước ngoài là – Liên Xô, Bulgaria, Tiệp Khắc và CHDC Đức. Tại Bulgaria đã quyết định nhận công nhân từ hai quốc gia chính: Việt Nam và Mông Cổ. Với Mông Cổ, Bulgaria đã có sự hợp tác cũ. Mông Cổ là nước thứ hai trong các nước XHCN thế giới sau Liên Xô, được thành lập năm 1921 với cuộc cách mạng nhân dân. Đất nước phát triển thành công, nhưng các vấn đề về nhân khẩu học và trình độ thấp của người lao động đòi hỏi phải cử họ đi đào tạo và làm việc tại Liên Xô. Bulgaria cũng tham gia vào sáng kiến ​​này vào năm 1958 với những sinh viên Mông Cổ đầu tiên, nhưng vào tháng Bảy năm đó, những người lao động Mông Cổ đầu tiên cũng đến. Ba lĩnh vực chính mà họ làm việc là nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm và xây dựng.

Tuy nhiên, vào những năm 1970, lãnh đạo chính phủ của Bulgaria đã thắng thế trong quan điểm rằng cần phải tiếp nhận cả công nhân từ các nước xã hội chủ nghĩa khác, từ các nước đang phát triển cũng nên được khuyến khích chấp nhận lao động nước ngoài vào Bulgaria. Tất nhiên, việc này không hoàn toàn miễn phí. Đầu những năm 1970, Bulgaria cùng với các nước XHCN khác đã đàm phán với Ai Cập và Việt Nam để tiếp nhận công nhân. Ban đầu, họ thích thuê công nhân từ Ai Cập bởi trình độ chuyên môn của họ. Công nhân từ Việt Nam chỉ là lựa chọn thứ hai vì họ không có chuyên môn, thiếu kỹ năng làm việc và phần lớn là các cựu chiến binh trẻ.

Các cuộc đàm phán với Ai Cập thất bại vì bất đồng về tỷ giá hối đoái của đồng đô la dựa theo đó mức lương và lợi ích của người lao động được xác định. Như vậy, Việt Nam thế chỗ cho Ai Cập. Năm 1973 đánh dấu sự khởi đầu của việc tiếp nhận các thực tập sinh Việt Nam (và sau này là công nhân) tới Bulgaria. Cho đến lúc đó, quan hệ giữa Việt Nam và Bulgaria chủ yếu liên quan đến trao đổi sinh viên. Bulgaria đã ký tổng cộng ba thỏa thuận liên chính phủ bằng văn bản về vấn đề này với Việt Nam và một nghị định thư của chính phủ vào năm 1973 trong chuyến thăm chính thức tới Việt Nam, Phó Chủ tịch HĐBT Bulgaria, Pencho Kubadinsky, đã ký hiệp định liên chính phủ đầu tiên và vào năm 1980 trong chuyến thăm của Todor Zhivkov tới Việt Nam đã ký kết thỏa thuận thứ hai bởi hai bộ trưởng Bulgaria – Phó Chủ tịch HĐBT và Chủ tịch Ủy ban Kế hoạch Cyrillic của Nhà nước Arev và Bộ trưởng Bộ Lâm nghiệp và Công nghiệp Rừng Janko Markov. Tháng 10 năm 1986, hiệp định liên chính phủ thứ ba với Việt Nam được ký kết bởi Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Lâm nghiệp Alexi Ivanov và Phó Chủ tịch HĐBT Việt Nam Võ Văn Kiệt tại Sofia trong chuyến thăm của ông Kiệt ở vùng Tây Bắc Bulgaria, kéo dài thời gian cư trú của người Việt ở Bulgaria lên hai năm – tức là đến năm 1988.

Thỏa thuận chính phủ cuối cùng được ký kết vào ngày 6 tháng 10 năm 1988 tại Hà Nội bởi Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Lâm nghiệp Bulgaria Alexi Ivanov và Phó Chủ tịch HĐBT và Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Công nghiệp Thực phẩm Việt Nam Nguyễn Công Tạng tại chuyến thăm chính thức của Bộ trưởng Alexi Ivanov ở Việt Nam, trong đó thời gian lưu trú của công nhân Việt Nam tại Bulgaria tăng lên cho đến ngày 6 tháng 10 năm 1990.

Các thỏa thuận nói về việc sử dụng các chính sách tích hợp cho những người sắp sang Bulgaria, với mức độ khác nhau trong các giai đoạn khác nhau. Lúc đầu, Bulgaria tiếp nhận 3.000 thực tập sinh từ Việt Nam, 17.000 vào năm 1980 và đầu năm 1989 con số này lên tới 20.000. Bulgaria cung cấp phiên dịch cho người mới đến, đào tạo ngôn ngữ tiếng Bulgaria, bảo hộ lao động, điều kiện sống và làm việc (Thời gian đào tạo giảm từ 6 tháng năm 1973 xuống còn 3 tháng năm 1980). Đào tạo ngôn ngữ vẫn tiếp tục ngay cả sau khi công dân Việt Nam được đưa vào quy trình sản xuất (6 tháng sau khi đến năm 1973 và 3 tháng năm 1980), và các doanh nghiệp đã gắn bó công nhân Việt Nam với người Bulgaria. Trong quá trình đào tạo ban đầu, người lao động Việt Nam được nhận học bổng, và sau đó mức thù lao của họ được xác định theo mức lương của các đồng nghiệp Bulgaria. Tất cả người lao động nước ngoài được hưởng các quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động Bulgaria. Bulgaria có nghĩa vụ đảm bảo điều kiện sống đầy đủ, theo nơi họ được đào tạo và làm việc (ký túc xá, căng tin, điều kiện cho các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao và các hoạt động xã hội khác) theo các điều khoản bình đẳng với người lao động Bulgaria trong tổ chức kinh tế tương ứng; cấp một lần và miễn phí (ngay sau khi đến Bulgaria) hai bộ đồ lót, một bộ trang phục, bao gồm mũ, giày, tấm lót, một đôi giày đi bộ, giày thể thao và một bộ đồ vệ sinh; doanh nghiệp cung cấp quần áo lao động và bảo hộ, thiết bị bảo vệ cá nhân, dụng cụ, thiết bị cần thiết, v.v. (Quỹ CPA136.73.330, trang 13-14, ngày 3 tháng 10 năm 1980).

Từ năm 1973 đến 1989, tồn tại một số giai đoạn trong mối quan hệ giữa người lao động nước ngoài, nhà nước và doanh nghiệp dẫn đến việc phát sinh một dạng phạm trù đặc biệt “công nhân Việt Nam”. Người Việt được đặt vào các vị trí của thực tập sinh, công nhân và cuối cùng là công nhân trả nợ. Nhưng kể từ khi Medarov và Tsoneva (2016) tuyên bố, “quản lý xí nghiệp cố gắng hướng tới bảo đảm truy cập ổn định các phương tiện sản xuất”, việc tái sản xuất các phạm trù này trở nên cần thiết phải tuân theo cả thời kỳ cuối chủ nghĩa xã hội. Hai điều dẫn dắt phân tích của tôi theo hướng này. Đầu tiên là sự đồng thuận tương đối dễ dàng trong công đoàn về vị trí của người lao động nước ngoài. Tuyên bố năm 1986 của Costa Andreev, thư ký liên đoàn Bulgaria vào thời điểm đó, rằng vị trí của công nhân nước ngoài là nằm trong các công đoàn Bulgaria trong quan điểm về quá trình di cư ngày càng tăng, nói về chính sách hòa nhập vĩnh viễn này. Điều thứ hai gây ấn tượng là phản ứng của công đoàn, một lần nữa đại diện là Kosta Andreev, sau vụ cảnh sát đánh đập tập thể công nhân Việt Nam tại nhà máy “Bulgaria” ở Sofia.

Sau hành vi này, được thực hiện bởi các cảnh sát theo lệnh của nhóm trưởng, các cảnh sát tham gia hành động đã bị tòa án quân sự Sofia bắt giữ và đưa ra xét xử, bị đuổi việc và khai trừ khỏi Đảng, và sau đó bị đưa tới tại một trại cải tạo lao động ở làng Belene, Svishtov. Bản án về các vụ đánh đập là khắc nghiệt – hơn 40 năm tù. Chủ tịch Todor Zhivkov, Thủ tướng Georgi Atanasov, Phó Chủ tịch HĐBT Ognian Doynov – Chủ tịch Ủy ban Liên Chính phủ Bulgaria-Chính phủ và Phó Chủ tịch HĐBT, chịu trách nhiệm về tổ hợp công nghiệp quân sự Alexi Ivanov, Chủ tịch Hội đồng nông thôn và lâm nghiệp tại HĐBT tại một cuộc họp chung của Chính phủ và Hội đồng Nhà nước được chỉ thị không chỉ với những kẻ đánh người mà còn cho các thành viên gia đình họ quan sát và nghe các cuộc đối thoại qua điện thoại của chính quyền quân đội RUMO và Ủy viên nhà nước thứ ba (Phản gián quân sự), và tại cuộc thẩm vấn những người bị bắt giữ có tham dự cả tuỳ viên quân sự Việt Nam tại Bulgaria đại tá Van Di (được biết là đã tiến hành thẩm vấn những người Mỹ bị bắt giữ và tù binh Pháp năm 1954). Có tin đồn rằng đây là một sự khiêu khích chống lại chủ nghĩa xã hội của các điệp viên được trả tiền từ Đại sứ quán Mỹ. Các cựu cảnh sát cũng bị thẩm vấn về các điệp viên tình báo Mỹ.

Trong một tuyên bố vào năm 1988, Phó Chủ tịch HĐBT Grigor Stoichkov tuyên bố rằng Bộ Nội vụ Sofia và các giám đốc khu vực sẽ được theo dõi bởi cả HĐBT và RUMNO quân đội và 3 cơ quan an ninh nhà nước – đặc biệt là đối với các cuộc khiêu khích trong khi đang xảy ra cuộc chiến ở Campuchia, tại đó có mặt quân đội Việt Nam. Các cuộc thảo luận diễn ra trong Hội đồng Bộ trưởng, công đoàn, cũng như với Đại sứ quán Việt Nam và đích thân Đại sứ Nguyễn Tiến Thông, bày tỏ sự ngạc nhiên chưa từng thấy với các hành động của cảnh sát. Năm 1987, Thứ trưởng thứ nhất Bộ Nội vụ Angel Karlov bị sa thải, và vị trí của ông được bổ nhiệm tướng Stoyan Stoyanov – cho đến lúc đó là Bí thư thứ nhất của Ủy ban Đảng Cộng sản Bulgaria tại Haskovo. Todor Zhivkov kêu gọi sự giám sát chặt chẽ hơn của Nhà nước và Hội đồng Bộ trưởng và UBO về công việc của cảnh sát và về vai trò lớn hơn của Quân đội Nhân dân Bulgaria và về các chức năng của quân đội trong trật tự công cộng, tuyên bố rằng trong quân đội có những người hiểu biết hơn tình hữu nghị Bulgaria-Việt Nam. Một đề xuất đã được tướng Ljubco Toshkov, người đứng đầu đồn trú BNA Sofia đưa ra là các công nhân nước ngoài sẽ được kiểm soát chỉ bởi BNA và họ sẽ chịu trách nhiệm bảo vệ các ký túc xá. Có vẻ như vụ đánh đập sẽ tạo ra một mối quan hệ mới.

Chính sách tiếp cận xã hội của lao động nước ngoài Việt Nam và Mông Cổ có từ năm 1989. Trong khi BSP (Đảng XHCN) đóng vai trò là chất xúc tác cho phương pháp này, thì đảng đối lập KT Pokrepa lại là chất xúc tác cho quá trình ngược lại là sự tan rã mạnh mẽ của lao động nước ngoài tại Bulgaria. Công nhân Việt Nam và Mông Cổ đang trở thành vật tế thần của các quá trình này.

Vào tháng 7 năm 1990, nội các của Lukanov đã thông qua nghị quyết 163 nhằm tạo điều kiện cho việc trục xuất nhanh chóng người Việt và người Mông Cổ ra khỏi đất nước. Theo Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Boyko Dimitrov, sự cần thiết của biện pháp này là ngăn chặn mối đe dọa tiềm tàng có thể tới từ việc khai thác “vấn đề” (sự hiện diện của công nhân Việt Nam) trong chiến dịch bầu cử. Ủy ban Điều tra nghiên cứu về biến thể trong chế độ toàn trị tại Quốc hội, do Andrei Lukanov đứng đầu được thành lập vào tháng 3 năm 1990, tuyên bố rằng việc nhập khẩu người Việt Nam và Mông Cổ là lỗi chính của Todor Zhivkov và các cựu lãnh đạo đảng và nhà nước cận kề bên ông, cựu Phó Thủ tướng Stanis Bonev và Ognyan Doynov – thành viên và ứng cử viên Bộ Chính trị, cựu Bộ trưởng Bộ Kinh tế và Kế hoạch Stoyan Ovcharov, cựu Thủ tướng Georgi Atanasov – ủy viên Bộ Chính trị, cựu Phó Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Lâm nghiệp Alexi Ivanov, Bí thư Uỷ ban thường vụ BAP. Theo Lukanov thì Stoyan Ovcharov, Ognian Doinov và Alexiy Ivanov đã đặc biệt phạm tội vì trong giai đoạn 1986-1989, là những lãnh đạo trong chính sách của chính phủ với Mông Cổ và Việt Nam, đã cấp giấy cư trú cho công nhân Việt Nam và Mông Cổ và cho vay tín dụng nhà nước cho Việt Nam và Mông Cổ để tiến hành, như Andrew Lukanov nói “Các dự án khủng của họ ở Mông Cổ và Việt Nam”, điều đó khiến nhà nước và nhân dân Bulgaria nợ nước ngoài.

Bị đem ra mổ xẻ nặng nề nhất là các hiệp định chính phủ về nhập khẩu người Việt Nam và Mông Cổ và luật quan hệ lao động được ký bởi các cựu Bộ trưởng Stoyan Ovcharov và Alexi Ivanov. Theo Lukanov, chính Hiệp ước với Việt Nam năm 1986 và 1988, với tư cách là Bộ trưởng nông nghiệp và lâm nghiệp, Alexi Ivanov thực tế đã bổ nhiệm một lực lượng lao động nước ngoài trong ngành nông nghiệp, xây dựng và công nghiệp thực phẩm bằng cách trả tiền cho người nước ngoài từ ngân sách nhà nước, điều đó làm thiệt hại cho quốc gia và người nộp thuế, đồng thời, cùng với Bộ trưởng Bộ Kinh tế Stoyan Ovcharov đã đề xuất với HĐBT và thông qua quyết định vào ngày 4 tháng 11 năm 1988, hạn chế dòng chảy lực lượng lao động Bulgaria trong lĩnh vực nông nghiệp – Ovcharov và Ivanov – đã buộc dân Bulgaria phải làm việc ở nông thôn trong điều kiện khó khăn hơn nhiều so với người Việt Nam và Mông Cổ mà nhà nước trả tiền các căn hộ. Lukanov nói rằng nhờ các khoản tín dụng của chính phủ cho Mông Cổ và Việt Nam, Alexi Ivanov, Ognyan Doynov và Stoyan Ovcharov đã khiến cho nợ của chính phủ Bulgaria đến 10 tỷ đô la và hơn 20 triệu rúp. “Những người này – Lukanov nói, cần phải bị bắt, giao cho Văn phòng Công tố viên và bị xét xử vì tội cố ý chiếm đoạt ngân sách nhà nước và hủy hoại nền kinh tế và nông nghiệp. Thực tế rằng Ủy ban “Lukanov” chủ yếu lên án các thỏa thuận năm 1986 và 1988, nhưng không nói một lời nào về những thoả thuận năm 1970 và 1980. Về những người phạm tội, ông công bố những người lãnh đạo mối quan hệ Bulgaria Việt Nam và Bulgaria Mông Cổ trong giai đoạn 1986-1989, nghĩa là trong những năm cuối chủ nghĩa xã hội, nhưng không phân tích sự cần thiết và tích cực của người Việt Nam và người Mông Cổ đang sống trong quốc gia Bulgaria. Các tài liệu của Ủy ban Lukanov đã được bàn giao cho Văn phòng Công tố viên và năm 1990 đã đệ trình Vụ án số 4 về cuộc khủng hoảng kinh tế, trong đó buộc tội Todor Zhivkov, Georgi Atanasov, Grisha Filipov, Ognian Doynov, Georgi Yordanov, Aleksi Ivanov, Stoyan Ovchrov, Ivan Iliev, Stanish Bonev và các cựu lãnh đạo khác. Việc trục xuất người Việt Nam và người Mông Cổ, theo chính phủ Andre Lukanov, cần phải bắt đầu theo các giai đoạn và kết thúc vào tháng 12 cùng năm đó, bằng cách với những người lao động chỗ làm việc bị huỷ hoặc nhẽng người bị sa thải, tiền bồi thường được trả như sau: 100% tiền lương cho tháng đầu tiên, 90% cho tháng thứ hai và 80% cho tháng thứ ba.

Việc Lukanov bị truất quyền vào tháng 12 năm 1990 đã không cho phép nội các của Đảng Xã hội BSP thực hiện công việc đã bắt đầu và nó đã được hoàn thành bởi nội các của Popov và sau đó bởi Đảng Dân chủ UDF. Mặc dù tầm quan trọng của người Việt Nam là một vấn đề, nhưng họ không phải là nhóm người nước ngoài duy nhất, nhóm còn lại là người Mông Cổ bị buộc rời khỏi Bulgaria. Vào ngày 5 tháng 8 năm 1991, một Ủy ban được thành lập dưới sự bảo trợ của HĐBT, có nhiệm vụ thực hiện các biện pháp về mối đe dọa có thể xảy ra từ nơi cư trú của một số lượng lớn người nước ngoài ở Bulgaria. Tổng cộng có 80 quốc gia, bao gồm Việt Nam, Mông Cổ, Iraq, Syria, Morocco, Algeria, Tunisia, Ai Cập và nhiều quốc gia khác, nằm trong danh sách của ủy ban này, tồn tại rất lâu sau ngày thành lập. UDF này không dừng lại với chuyện này. Chính phủ của Philip Dimitrov đã hỗ trợ Văn phòng Tổng công tố vào tháng 7 năm 1992 cũng đưa vụ án số 3 về các khoản tài trợ cho các nước thuộc thế giới thứ ba trong thời kỳ chủ nghĩa xã hội từ năm 1981 đến 1989 chống lại 22 cựu lãnh đạo đảng và nhà nước, tiếp tục chính sách của Lukanov đối với các nước thuộc thế giới thứ ba, mà chính phủ Lukanov năm 1991 đã tiến hành vụ kiện số 4. Tuy nhiên, thực tế là một lực lượng lao động Trung Quốc đã được thành lập ở Bulgaria vào khoảng năm 1991-1992 và những năm tiếp theo nhưng chính phủ UDF của Dimitrov, cũng như của L. Berov (không thuộc đảng phái), G. Videnov (BSP) và của Ivan Kostov (UDF) đã không áp dụng bất kỳ chính sách nào đối với người Trung Quốc, những người bắt đầu và phát triển thành công kinh doanh nhà hàng và bán hàng rong ở Iliyantsi.

Nhưng Philip Dimitrov có thấy trước với chủ nghĩa chống Việt Nam và chống Mông Cổ có thể được sử dụng để chống lại BSP trong chiến dịch bầu cử? Để trả lời câu hỏi này, cần nhớ lại rằng các đảng đối lập UDF và KT Podkrepa xây dựng chiến dịch này trên cơ sở tạo sự không hài lòng liên quan đến việc chuyển đổi không đủ nhanh sang nền kinh tế thị trường. Đây cũng là điểm khởi đầu ở đây. Tạo ra ý tưởng về cái gì là đúng, cách xác thực cho một thị trường tự do thực sự đòi hỏi phải có một cơ chế để loại bỏ các “yếu tố” được coi là “không điển hình”, “không mong muốn”, “không xứng đáng” và thậm chí là “thói xấu truyền nhiễm” trên đường đến một dạng thị trường như vậy. Nói cách khác, việc tạo ra một thị trường thực sự phải tuân theo logic loại trừ các yếu tố không mong muốn này để tránh sự tái diễn của một thị trường giả. Những người nước ngoài, và hầu hết phải đối mặt với mối đe dọa lớn nhất, người Việt Nam mà cả người Mông Cổ cũng bị đóng khung như vậy.

Chiến dịch trước bầu cử năm 1990, trái với mong đợi của Dimitrov, đã không dựa vào chủ nghĩa chống Việt Nam, vốn đã thay đổi ngay sau khi cuộc bầu cử diễn ra. Bài báo đầu tiên xuất hiện trên tờ Podkrepa về công nhân Việt Nam và sự hiện diện của họ trên lãnh thổ Bulgaria là vào ngày 26 tháng 6 năm 1990 ngay sau cuộc bầu cử. Bài “Máy bay cho Việt Nam” của Ljubov Konstantinova bắt đầu như sau: “Cho đến ngày nay, có lẽ chính xác giống như một đất nước có hệ thống kinh tế phát triển đúng đắn, chúng ta có người thất nghiệp và … công nhân nước ngoài”. Ngay ở đây đã thấy hình ảnh của người Việt. Người Việt Nam là dư thừa trong nền kinh tế và là đối thủ phản diện của người thất nghiệp Bulgaria. Nhưng hãy nhìn kỹ hơn vào hình ảnh này. Konstantinova tiếp tục:
“Với việc chấm dứt thỏa thuận nhập khẩu nhân lực từ Việt Nam, ở Bulgaria các vị trí lao động sẽ được giải phóng – điều đáng hoan nghênh cho những thay đổi kinh tế của chúng ta. Chắc chắn tội phạm trong nước sẽ giảm. Thị trường của chúng ta sẽ dễ thở. Từ đầu cơ, tạo ra sự thiếu hụt giả tạo. Nhưng! Theo hiệp ước hiện hành, mỗi người Việt Nam rời khỏi Bulgaria có thể mang đi vải vóc và những hàng hoá đang thiếu thốn khác! Điều này sẽ phản ánh thế nào lên thị trường đang hết hơi của chúng ta? “(Tháng 6 năm 1990). Người Việt đại diện cho cả quá khứ toàn trị và trở ngại phải vượt qua để biến đổi diễn ra. Sự cản trở này thường được tìm thấy trong các cụm từ như “hội chứng Việt Nam” và “Vietnamiada”. Theo Kiril Fillev, căn bệnh của thị trường ẩn giấu chính xác ở hội chứng Việt Nam này, cho phép người Việt Nam với tình đồng đội châu Á điển hình của họ được hưởng lợi từ luật pháp Bulgaria và tích lũy tài sản mà không phải làm việc.
Ivan Sabev nhận thấy ở người Việt Nam có sự mâu thuẫn thú vị. Họ đồng thời vừa là dư thừa khiến người Bulgaria không thể tìm được việc làm, vừa là những người thất nghiệp lười biếng, gây bất lợi cho thị trường với đầu cơ tiền tệ bất hợp pháp. Vì thế, Nora Stoichkova tuyên bố hãy trục xuất họ ngay lập tức trong một bài viết tháng 11 năm 1990 trên tờ báo “Podkrepa”. Tác giả thậm chí sẵn sàng xóa nợ của Việt Nam với Bulgaria, chỉ để thoát khỏi người Việt cho thị trường dễ thở. Người Việt Nam đã trở thành điều vô nghĩa cuối cùng của thời toàn trị phải bị tống cổ và loại bỏ.

Từ giữa năm 1990 đến đầu năm 1993, người Việt Nam trở thành đối tượng monolite của sự căm thù từ phía phe đối lập chống cộng ở Bulgaria. Và nếu “cuộc du ngoạn lớn” là điều kiện tiên quyết để tạo ra một hình tượng với đó phe đối lập được củng cố, thì đồng thời chính phe đối lập này lại tạo ra một hình ảnh khác. Ngày nay, hình ảnh này, bất kể hình ảnh nào của người lao động nước ngoài (tiềm năng), vẫn đóng một vai trò trong các hành vi phân biệt chủng tộc khó nắm bắt và gây tranh cãi. Khả năng để chúng ta nghĩ người Việt Nam (hoặc bất kỳ nước nào khác), yếu tố phụ thuộc nghiêm ngặt vào thị trường là tuyên bố ý thức hệ của “quyền tối cao trên thị trường “.

Theo socbg.com

Как се появиха виетнамските и монголските работници в България

2 Comments (+add yours?)

  1. Cựu Bun
    Jul 29, 2019 @ 11:31:56

    Trước khi có hiệp định hợp tác lao động, hai nước có ký hiệp định về dạy nghề với số lượng ấn định 6.000 TTS, bắt đầu sang từ 1973. Trước đó cuối những năm sáu mươi, ta có ký đưa thử một số TTS sang trước, nhưng số lượng không đáng kể. Đi theo HĐ HTLĐ thì ta đưa được 27.633 người sang Bun (theo thống kê của Bộ LĐ VN)

    Reply

  2. Mai
    Oct 01, 2019 @ 14:00:14

    Dân Bul vừa lười vừa ngu, không chịu học hành, không chịu được gian khổ nên chính phủ mới phải nhập khẩu lao động để làm đường cao tốc, xây nhà máy điện hạt nhân, làm công nhân trong các nhà máy. Rồi để lật đổ chính phủ cũ thì lôi người lao động Việt ra làm vật tế thần.
    Vừa đổ tại người Việt đông làm chúng nó thất nghiệp, vừa đổ tại người Việt lười không chịu lao động mà chỉ buôn bán, đầu cơ tiền tệ. Sao mà 2 luận điểm này mâu thuẫn một cách ngu ngốc như vậy mà vẫn được chấp nhận?
    Những người cộng sản xây dựng nên một nước Bul giàu đẹp đã bị hạ bệ. Một lũ siêng ăn lười làm lên nắm quyền, bám đuôi bố Mỹ và Nato tưởng cứ thế được nuôi không, ăm bám như đã từng ăn bám người Liên Xô ngày xưa. Nhưng đời đâu có như mơ, Mỹ và Nato thờ ơ bỏ mặc, đất Bul sụp đổ toàn diện. Quá báo không sai.
    Tôi đã sống ở đó 7 năm, đúng thời kỳ chuyển đổi chính phủ nên cũng biết về tình hình người Việt mình như thế nào.

    Reply

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

Free counters!

%d bloggers like this: