Ký ức một thời lửa đạn của nữ cựu binh Bộ tư lệnh đoàn 559


Tự hào chị Phượng đoàn mình

TPO – Với lòng nhớ thương và cảm phục đồng đội đã từng “vào sống ra chết” cùng mình, nữ cựu chiến binh Lê Thị Mộng Phượng (quê Thạch Trung, Thạch Hà, Hà Tĩnh) đã bồi hồi chia sẻ ký ức về những tháng ngày gian nan trên chiến tuyến diệt thù.

Chân dung nữ CCB Lê Thị Mộng Phượng ngày đầu trong quân ngũ. (ảnh: NVCC)

Chân dung nữ CCB Lê Thị Mộng Phượng ngày đầu trong quân ngũ. (ảnh: NVCC)

KỲ 1: Hành quân vào Thượng Lào

Ở cái tuổi 65, gương mặt chị Phượng vẫn ngời lên nét thanh tú một thời xuân sắc. Trong những câu chuyện kể của chị luôn đan xen giữa tiếng cười lạc quan dí dỏm và tiếng nấc nghẹn khi nhớ lại đồng đội năm xưa…

Ba lần viết huyết thư xin đi bộ đội

Những ngày còn đang học cấp 2, bất kể lúc nào có máy bay oanh tạc, chị đều chạy một mạch lên Cồn Cồ cách nhà 500m để làm nhiệm vụ tiếp đạn cho bộ đội cao xạ. Năm 1968 chị mới 14 tuổi, nhưng đã tìm mọi lý do thuyết phục gia đình cho nghỉ học để đi làm dân công hỏa tuyến. Sau chuyến đi gánh gạo phục vụ chiến trường vào đến tận Quảng Bình, chị được cấp trên tin tưởng kết nạp vào Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Làm được một năm, chị gái và anh rể yêu cầu chị phải về đi học tiếp. Tháng 12 năm 1970 chị đang học lớp 10 thì biết có chủ trương của nhà nước tổng động viên để chi viện cho chiến trường. Để thực hiện ước mơ được khoác trên mình bộ quân phục màu xanh của “anh Bộ Đội Cụ Hồ”, chị đã làm đơn gửi đến tỉnh đoàn thanh niên Hà Tĩnh. Sau 3 lần cắt máu viết tâm thư xin đi bộ đội, cuối cùng nguyện vọng của chị cũng được toại nguyện. Chị ra đi với ba lô trên vai và một trái tim nóng bỏng với một lý tưởng cao đẹp là “giải phóng miền nam, thống nhất đất nước”. Cùng với hàng nghìn chiến sỹ nữ, chị được tập trung học điều lệnh hai tháng ngay trên mảnh đất quê hương Hà Tĩnh. Sau đó, các chị được lệnh hành quân thẳng vào chiến trường. Với sự nhanh nhẹn, khỏe mạnh của một cô gái tuổi “17 bẻ gãy sừng trâu”, chị được cấp trên phân công làm tiểu đội trưởng chỉ huy một tiểu đội nữ quân nhân. Tiểu đội của chị cùng đơn vị hành quân bộ dọc theo đường giao liên vào Thượng Lào để mở “Đường 20 Quyết thắng”.

Dọc đường hành quân

Đơn vị được lệnh hành quân dọc theo đường mòn giao liên có qua đèo, lúc đó các cánh lính gọi là đèo 1001. Con đường giao liên bằng đường đất, đi xuyên qua núi từ Quảng Bình sang Lào. Khi ấy, con đường rất khó đi, đất trơn tuột, dốc thẳng đứng, phải đi qua nhiều lau, sậy, đá tai mèo dốc thẳng đứng. Thế mới biết, ở bất kỳ hoàn cảnh khó khăn nào người lính Cụ Hồ cũng luôn luôn lạc quan để vượt qua. Hành quân vất vả là vậy mà chị kể nghe cứ nhẹ bâng, hài hước vô cùng: “Vào những ngày mưa thì “từng đoàn” vắt đuổi theo bước chân người đi nghe như tiếng gió rào rào. Những chú vắt cứ thế tùy tiện chui vào bất cứ đâu mà chúng có thể chui được chứ “chẳng thèm xin phép” các cô, chú bộ đội. May mắn là bọn vắt khác với bọn đỉa, những chú vắt sau khi hút no máu thì tự lăn ra mà không “đóng đô” lại đâu đó trên cơ thể con người như loài đỉa. Trong đoàn hành quân cũng có đồng chí khóc vì sợ vắt, sợ thú rừng và mang vác nặng cũng khóc. Nhưng khóc thì chẳng có ích lợi gì vì có ai nghe đâu, mọi người đều mãi miết đi và đi, may ra chỉ có gió, mưa và những chú vắt rừng nghe được…”. Có lẽ là người con gái Hà Tĩnh nên chị được thừa hưởng cái “gien” mạnh mẽ, cứng cỏi của người dân miền quê nóng rát gió Lào. Chính vì thế, trong các cuộc hành quân chị là người thường đi trước, nhưng lại thường xuyên đứng đợi hoặc quay lại phía sau xem có đồng chí nào mệt tụt lại để còn giúp đỡ. Có đồng chí vác nặng quá không mang theo được đã bỏ lại dọc đường cả những ruột tượng gạo hay tăng màn, quần áo. Thấy vậy chị đã nhặt hết, mang theo trên đôi vai của mình có lúc đến hơn 50kg, ngang ngửa với trọng lượng cơ thể. Bởi chị nghĩ, nếu không mang đi dọc đường lấy gì mà ăn, đồng chí mình lấy gì mà ngủ, mà thay.

Ký ức một thời lửa đạn của nữ cựu binh Bộ tư lệnh đoàn 559 - ảnh 1

Nữ sinh Lê Thị Mộng Phượng cùng anh trai trước ngày nhập ngũ (ảnh: NVCC)

Trên đường hành quân, khi có lệnh được nghỉ giải lao, cả đoàn quân dừng lại. Người thì nhanh nhẹn đi kiếm nước tranh thủ bắc ngay ăng-gô lên để nấu cơm, người thì mệt quá nằm ngay ra vệ đường ngủ một giấc. Để bảo đảm an toàn tránh bị địch phát hiện ra khói, chị đã nhắc nhở mọi người cùng tranh thủ đào “bếp Hoàng Cầm” để nấu cơm. Chỉ tay về phía chiếc ăng-gô kỷ vật một thời trên chiến trường, chị cười kể tiếp: “Khổ nhất là khi đi qua Binh Trạm 14, chẳng có lấy một giọt nước nào. Đúng là nước khe cạn bướm bay lèn đá”, thế là cả đoàn quân chia nhau múc những ăng-gô nước ở khe đá cạn lúc nhúc những con nòng nọc. Đến khi nấu xong cơm thì nòng nọc cũng nằm lẫn gạo như là độn thêm thực phẩm vậy. Ấy thế mà lính ta cứ chén hết sạch ăng-gô cơm ngon lành. Có lẽ nhờ có thêm món “nòng nọc” nên sau khi ăn chúng tôi đi nhanh hơn. Tuy nhiên trong hàng quân cũng có sự cố xẩy ra, một số đồng chí kêu mất bao tượng gạo, đồng chí khác kêu mất tăng võng, lại có tiếng khóc thút thít của ai đó giữa hàng quân. Hóa ra khi trời nhập nhoạng tối, lính ta tranh thủ ngủ lấy sức, thế là cánh dân công hỏa tuyến đi qua họ “mang giúp” cho đỡ nặng mà không biết”

Đoàn quân cứ đi và máy bay B52 cứ rải bom. Cánh lính ta đều là con em đi từ khu 4 cho nên chuyện bom đạn quen rồi. “Có ra chiến trường hay ở nhà thì cũng vẫn bom đạn réo rắt cả ngày, chẳng mấy ai để ý, bom cứ thả và đoàn quân cứ đi. Nhưng lần này thì không thể bình thường được nữa, chúng ném bom đúng giữa đoàn quân” – Kể đến đây mắt chị ngân ngấn lệ: “Tôi đang đi phía trước bỗng nhiên có tiếng hét “nằm xuống”… “bom B52”. Tôi chưa kịp định thần thì cả đám lửa khổng lồ đã bùng lên, tiếng máy bay B52 rít qua đầu. Kinh nghiệm cho thấy, đã là “B52 rải thảm” thì nghe tiếng bom nổ trước rồi mới nghe được tiếng máy bay sau. Hơn chục đồng chí “chiến sỹ gái” đã vĩnh viễn ra đi. Mười mấy đồng chí khác bị thương, trong đó có đồng chí Toàn (ở thành phố Hà Tĩnh) bị cháy xém gần hết gương mặt”.

Trước tình hình đó, để tránh thương vong xảy ra, cuộc hành quân được chuyển sang đi bằng ô tô tải. Các chị được “nằm” chung với những bao gạo đầy ắp trên xe. Để “cảnh giác” với “cánh mày râu” đi chung trên một xe, các chị dùng bao gạo làm “biên giới”. Nhưng đến khi ngủ quên, xe xóc mạnh, lúc thức dậy thấy mình đang ôm một “bao gạo” đầy đủ quần áo và có cả… râu. Lúc ấy, các chị cảm thấy thật kinh hoàng! Xe tạm dừng, nghỉ ngơi điểm lại quân số, phát hiện thiếu mất một “chiến sỹ gái”. Cuối cùng phát hiện ra, khi xe chạy xóc quá bị rơi xuống đường lúc nào không biết. Thôi thì để đơn vị khác đi sau đón giúp. Và, đoàn xe cứ thế lại hành quân tiếp.  Kể đến đây mắt chị ngấn lệ và nhìn xa xăm như đang cố nhớ lại những ngày tháng ác liệt mà chị và đồng đội đã trải qua trên đường ra mặt trận.

Mở đường 20 quyết thắng

Nhấp ngụm trà xanh đặc quánh, ánh mắt chị nhìn xa xăm như đang cố tìm lại dáng dấp trẻ trung, vẻ đẹp thơ ngây, trong sáng thuở nào của những đồng đội nữ năm xưa. Khóe mắt ngân ngấn lệ, chị hồi tưởng: “Tôi còn nhớ như in ngày đầu tiên đặt chân vào rừng già Thượng Lào. Lúc đó “công trường Hai Bà Trưng” được thành lập với hàng ngàn chiến sỹ nữ là lính công binh. Tôi được bổ sung vào một trung đội, mà duy nhất chỉ có một đồng chí trung đội trưởng là nam giới, còn lại toàn là “chiến sỹ gái”. Đồng đội của tôi đến từ Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa… Tất cả chúng tôi lúc ấy đều quá trong sáng, ngây thơ, chưa có ai được biết đến hương vị của tình yêu là gì”.

Ký ức một thời lửa đạn của nữ cựu binh Bộ tư lệnh đoàn 559 - ảnh 2

Khúc cua chữ A trên cung đường 20 Quyết Thắng ngày đầu mới mở. (ảnh: tư liệu

Đúng là trong gian khổ, mọi khó khăn người ta đều có thể vượt qua cho dù đó là nam hay nữ. Những công việc nặng nhọc từ chặt cây, dựng lán cho đến đào hầm hay đánh bộc phá,… các chiến sỹ gái như chị đều tự làm thuần thục như nam giới.

Thế rồi trong suốt thời gian 6 tháng mở “Đường 20 Quyết Thắng” (gần Hang 8 cô hiện nay) biết bao nhiêu đồng đội nữ của chị, người thì ngã xuống, người bị thương, người thì sốt rét ác tính, ốm đâu được đưa về tuyến sau. Ấy thế nhưng riêng chị hình như bom đạn nó “chừa ra” thì phải. Không những thế, chị còn được cấp trên đề bạt làm trung đội phó khi tuổi đời mới đôi mươi.

Mặc dù với dáng người nhỏ nhắn, nhưng ở chị sự thông minh, tháo vát dường như được tôi luyện từ nhỏ. Không sợ vất vả gian khổ, bất kể công việc nhiệm vụ khó khăn nào chị cũng hoàn thành xuất sắc, chính vì thế chị được đồng đội gọi là “người dũng cảm”. Những hôm đồng đội bị sốt rét, chị có thể thay trực cả đêm. Một mình chị có thể băng rừng đi lấy gạo, gùi trên lưng cả bao gạo đi hàng chục cây số suốt cả ngày. “Có lần tôi đã bị bom vùi luôn cả bao gạo trên lưng, mà may thật nếu không có bao gạo che chắn thì lúc này làm gì còn mà nói chuyện với em” – Chị cười hiền từ nhưng ánh mắt lại rất tư lự. Để tìm kiếm, bổ sung thực phẩm cho đồng đội, một mình chị có thể ra suối đánh bộc phá lấy cá hoặc vào rừng săn bắt muông thú được cả hươu, nai, thậm chí cả tinh tinh nữa.

Kể đến đây giọng chị bỗng chùng xuống, bao nhiêu ký ức về đồng đội đã hi sinh lại ùa về nấc nghẹn: “Con đường chúng tôi cứ làm được đoạn nào, thông xe được đoạn nào là máy bay B52 lại rải bom đến đó. Đồng đội tôi cứ thế lần lượt hi sinh, ra đi mãi mãi… Nhiều đồng chí may mắn không dính bom đạn của kẻ thù thì cũng bị sốt rét hoặc ốm đau bệnh tật. Tôi không còn nhớ mình đã chôn cất bao nhiêu người, nhặt nhạnh từng bộ phận cơ thể đồng đội gói vào tăng võng, vùi vội xuống hố đất và cắm một cái cọc để làm dấu. Và, tôi cũng không còn nhớ được bản thân mình đã bao nhiêu lần bị bom vùi, sập hầm. Nhưng lạ thay, tôi không chết mà cũng chẳng bị thương, chỉ mấy lần bị sức ép xây xát sơ sơ và chảy máu ở tai, mắt mà thôi”.

Do tổn thất quá lớn, nên sau 6 tháng mở đường, cấp trên đã điều các chị ra tuyến sau để nhận nhiệm vụ mới. “Chia tay” lính công binh chị lại trở thành lính thông tin hữu tuyến và được điều vào chi viện cho Chiến dịch Đường 9 Nam Lào năm 1971. Gian khổ vẫn nối tiếp gian khổ và một ngọn đồi được cánh lái xe đặt tên “O Phượng” ra đời. Đó là nơi trọng điểm ác liệt mà chị đã từng hành quân đi qua. Chị cười bật mí tiếp: “Tôi gây ấn tượng với cánh lính lái xe là vắt vẻo trên ba lô sau lưng tôi là một chú lợn gần 30 kg vừa đi vừa kêu eng éc. Vì thế cánh lính lái xe đặt cho ngọn đèo gặp tôi hành quân qua là “Đèo O Phượng”. Lần đó, khi vượt qua sông Sepôn, chú lợn đã “không tuân theo kỷ luật” chiến trường, bỏ vị trí bơi ngay ra giữa dòng nước đang chảy cuồn cuộn. Vì không biết bơi, nên tôi đã phải cầu cứu đến những người lính đang hành quân vội vã. Một trong những đồng chí ấy đã dừng lại bơi đuổi theo chú lợn và bắt nó lại, buộc thật chặt và trả cho tôi với lời nhắc nhở rằng, phải cẩn thận kẻo nó lại sổng mất”. Chị buồn buồn và nói: “Giá bây giờ được gặp lại, tôi sẽ tặng hẳn đồng chí ấy một con lợn cắp nách”.

Sau này có dịp đi công tác qua đây, cái cảm xúc bùi ngùi, xót thương thật khó tả cứ thổn thức mãi trong lòng chị. Vẫn còn đó “đường 20 Quyết Thắng” gian khổ mà oanh liệt năm nào. Con số 20 được gắn với tên đường bởi những thanh niên xung phong và những người lính như chị lúc đó mới chỉ trên dưới 20 tuổi đời. Nghe chị kể, chúng tôi tin rằng nếu là nhà văn, chắc chắn chị đã viết được một cuốn tự truyện thật hay, thật cảm động kể lại cuộc đời hy sinh chiến đấu của các “chiến sỹ gái”- đồng đội năm xưa của chị với tất cả tình yêu thương và sự khâm phục vô bờ.

Ngoài trời vẫn mưa sụt sùi, nhưng không gian ngôi nhà của chị thật ấm áp. Đẩy ly trà nóng về phía tôi mời uống, chị trầm ngâm: “Xin thắp một nén nhang cầu cho linh hồn của các đồng chí nam, nữ bộ đội và thanh niên xung phong – những người đã từng mở “Đường 20 Quyết Thắng” đang nằm lại đâu đó trên mảnh đất năm xưa sớm được siêu thoát. Các chị, các anh mãi mãi là tuổi 20…” (Còn nữa)

(Ghi theo lời kể của nữ CCB Lê Thị Mộng Phượng)

BĂNG PHƯƠNG

Nữ cựu chiến binh Lê Thị Mộng Phượng (hàng sau, ngoài cùng bên trái) trong một lần về thăm lại bà con Vân Kiều năm 2010. (ảnh: NVCC)

Nữ cựu chiến binh Lê Thị Mộng Phượng (hàng sau, ngoài cùng bên trái) trong một lần về thăm lại bà con Vân Kiều năm 2010. (ảnh: NVCC)

Kỳ 2: Hành quân sang nam Lào

Ở cái tuổi 65 nhưng gương mặt chị vẫn ngời lên nét thanh tú một thời xuân sắc. Trong những câu chuyện kể của chị luôn đan xen giữa tiếng cười lạc quan dí dỏm và tiếng nấc nghẹn khi nhớ lại đồng đội năm xưa…

Tiểu đội nữ chiến sĩ thông tin

Do tổn thất quá lớn, nên sau 6 tháng mở đường, cấp trên đã điều các chị ra tuyến sau để nhận nhiệm vụ mới. “Chia tay” lính công binh chị được điều về Đại đội 17 thông tin để huấn luyện. Đơn vị của chị đóng quân tại Quảng Trạch (Quảng Bình). Với năng lực và tố chất chỉ huy sẵn có, chị đã được cấp trên giao nhiệm vụ làm tiểu đội trưởng của một tiểu đội thông tin. Hằng ngày các chị học về thông tin hữu tuyến với khóa học thời gian trong 3 tháng.

Chị bồi hồi nhớ lại: “Tôi vẫn còn nhớ như in những đêm báo động hành quân, những đêm trực chiến. Với cánh lính chúng tôi sợ nhất là báo động hành quân.  Vì ai cũng phải bật dậy thật nhanh và xuất phát thật đúng giờ, nếu không sẽ bị kiểm điểm phê bình. Do vậy, chúng tôi có sáng kiến là khi ngủ vẫn đi cả giày, mũ cối để ngay trên đầu và ba lô để sát bên cạnh, khi nghe tiếng còi báo động là bật dậy nhanh như cái lò xo. Là tiểu đội trưởng nên tôi cần phải nhanh nhất để còn đôn đốc các đồng chí khác. Thế là đêm này qua đêm khác cả tiểu đội ngủ trong tình trạng  “giày theo người”, ba lô sẵn sàng, thậm chí còn đội luôn cả mũ”.

Tiểu đội của chị luôn được tuyên dương là nhanh nhất, đội ngũ đẹp nhất, giường chiếu, chăn màn gấp gọn gàng đẹp nhất. Chị cười tinh nghịch: “Đúng là “được tiếng khen ho hen chẳng còn”. Tôi đã mất ăn mất ngủ để đôn đốc các đồng chí trong tiểu đội thực hiện nghiêm túc điều lệnh, điều lệ Quân đội và những nội quy, quy định của đơn vị đề ra.<

Những hôm tập rèn hành quân, tiểu đội tôi cũng có một vài đồng chí vừa đi, vừa khóc do chưa quen được gian khổ. Những lúc ấy tôi đã trổ hết tài để động viên, chia sẻ, có khi cõng dùm cả ba lô cho đồng đội nữa. Dần dà, mọi người tiểu đội tôi đều thoăn thoắt hành quân không một tiếng thở dài”

Vừa cười hóm hỉnh xong, vẻ mặt chị lại buồn thiu khi nghĩ đến đời người con gái nơi rừng thiêng, nước độc. Cuộc sống sinh hoạt hằng ngày của nam giới giữa chốn đại ngàn đã vất vả rồi, nhưng với các chiến sỹ gái thì còn khổ gấp nhiều lần hơn. Nét mặt đượm buồn, chị đưa chúng tôi trở lại cuộc sống thời chiến qua từng thước phim hồi tưởng.

Giọng chị như nghẹn lại khi kể căn “bệnh lạ” của một số chị em phụ nữ ngày đó: “Thế rồi, trong đơn vị bỗng xuất hiện cái bệnh ‘quái đản’. Một số chị em bị ốm, cứ vừa khóc, vừa cười. Mỗi lần nhìn thấy đồng chí bộ đội nam là ánh mắt của chị em như ngây dại. Mãi sau này tôi được thông báo mới biết đó là bị bệnh ‘ếch-tơ-ri’. Cái bệnh này lúc đó không điều trị được mà thường phải dùng roi, như cành cây phi lao.

Nếu người bệnh bị đánh đau thì sẽ im ngay, nhưng sau đó lại tiếp tục khóc, cười, ngây dại. Nghĩ cũng thật tội cho mấy đồng chí nữ ấy, do thần kinh yếu không chịu được gian khổ, thiếu thốn, không được quan tâm và phải chứng kiến đồng đội đổ máu, hi sinh nên một số chị em mới bị như vậy.

Chẳng bù cho tôi cả 3 năm đi lính chẳng ốm đau ngày nào, công việc cứ làm phăm phăm. Làm hết việc của mình, tôi làm giúp cho đồng chí khác. Từ việc đi lấy củi, tăng gia trồng rau hay chăn nuôi lợn gà, tôi thường vượt chỉ tiêu của đơn vị đặt ra. Cả đơn vị chẳng ai có thể lấy một ngày được 10 bó củi, nhưng tôi lại lấy được đến 15 bó là chuyện thường”.

Ký ức một thời lửa đạn: Hành quân sang nam Lào - ảnh 2

Chị Lê Thị Mộng Phượng trong một lần về thăm viếng liệt sỹ tại Nghĩa trang Đường 9 (ảnh: NVCC)

Ký ức một thời lửa đạn: Hành quân sang nam Lào - ảnh 3

Năm 2016, tại thành phố Hà Tĩnh, chị Phượng (bên trái) gặp lại chị Toàn (bên phải, nữ chiến sỹ bị thương cháy xém gương mặt trong trận bom B52 trên đường hành quân vào Thượng Lào).( ảnh: NVCC)

Cuộc hành quân của 5 chiến sĩ gái

Sau 3 tháng học xong khóa thông tin hữu tuyến, các chiến sỹ được điều về bổ sung cho các đơn vị chiến đấu. Chị và 4 đồng chí nữ khác được bổ sung cho Binh trạm 41, lúc đó đóng  quân tại cây số 39 đường 9 nam Lào. Chuyến đi này chỉ có 5 người và 1 cán bộ giao liên dẫn đường.

“Đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ như in 4 gương mặt tươi trẻ trong nhóm của chúng tôi lúc đó là Hương, Thuần, Mão và Hán. Trong đó, chỉ có Thuần ở Nghi Đan, (Nghi Xuân, Hà Tĩnh), còn lại Hương, Mão và Hán đều là người Nam Đàn (Nghệ An). Thời gian sau, tôi được về làm việc cùng với Thuần ở Cơ quan Tham mưu vận chuyển của Binh trạm 41.

Cô bé Hương rất xinh, nhỏ nhẹ nhưng sức khỏe yếu nên mỗi khi hành quân Hương thường đi sau, vừa đi vừa khóc. Vì thế, tôi luôn là người mang hộ quân tư trang cho cô ấy, nhưng rồi sau này Hương phải nằm lại dọc trạm giao liên vì sốt rét không thể đi được nữa” – Kể đến đây, giọng chị chùng xuống buồn buồn.

Cả nhóm 5 chiến sỹ gái phải hành quân dọc các trạm giao liên. Đây là thời điểm chiến tranh ác liệt nhất, bởi vì trước đó chiến dịch “Mậu Thân năm 68” của quân ta bị tổn thất rất lớn. Với cái “thế cài răng lược” của địch, nhiều nơi quân ta bị chặn hết mọi con đường chi viện, và cảnh tượng đó cũng xẩy ra với các trạm giao liên. Cả nhóm 5 người cố gắng đi mỗi ngày qua được một trạm giao liên, mà càng lên cao càng đi chậm.

Mệt, đói, khát và những cảnh tượng hi sinh mất mát gặp dọc trạm giao liên đã làm cho cả nhóm vô cùng đau đớn. Nhưng không vì thế mà làm chùn bước chân của các chị, trái lại càng nung nấu thêm ý chí quyết tâm phải hành quân đến được đơn vị chiến đấu. Càng nghe và nhìn chị kể chuyện trong nước mắt, chúng tôi cảm thấy có điều gì đó dâng lên đau nhói trong lòng. Chiến tranh ở đâu và khi nào cũng cực kỳ khốc liệt.

Nhấc cặp kính trắng, lau những giọt nước mắt, rồi chị kể tiếp: “Chứng kiến những cái võng tăng ở các trạm giao liên vẫn còn đó, lác đác những thi thể đồng đội nằm trên võng, tay vẫn còn nắm chặt những lá thư, những tấm hình của mẹ, của vợ, của con nhỏ và họ dường như đã ra đi thanh thản khiến chúng tôi không tài nào ngăn nổi nước mắt. Các anh hi sinh không những chỉ vì bom đạn mà còn vì đói, vì sốt rét và bệnh tật. Nhìn quanh trạm giao liên, chúng tôi còn thấy đâu đấy vương vãi những lá thư với những dòng chữ đã nhòe do mưa nắng, thời gian. Chúng tôi tận mắt chứng kiến bao nhiêu đồng đội hy sinh như vậy dọc theo đường giao liên. Nhưng chẳng có ai còn nhiều thời gian để dừng lại bên các anh, chúng tôi mải miết đi đi mãi để mong kịp đến đơn vị chiến đấu trả thù cho đồng chí của mình”.

Cứ thế, ba tháng trời các chị hành quân mặc cho đói khát, bom đạn, thám báo luôn rình rập và cái chết luôn kề cận. Với sức trẻ và ý chí một lòng “Vì miền nam ruột thịt” đã thôi thúc các chị nuốt nước mắt vào trong, đẩy lòng căm thù giặc Mỹ xâm lược lên đến đỉnh đầu. Trong suy nghĩ của các chị lúc đó chỉ có một quyết tâm là phải vượt qua bằng được chặng đường gian khổ để sớm đến đơn vị tham gia chiến đầu.

Không còn vẻ buồn tư lự nữa, giọng chị kể hào hứng hơn: “Trên đường hành quân chúng tôi đã gặp bao nhiêu thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, có cả phụ nữ, nam giới đồng bào Vân Kiều, Pakô… đi tải đạn, tải gạo. Họ mang vác trên đôi vai của mình một trọng lượng lớn hơn cả cơ thể, họ đi hết ngày nọ đến ngày kia để tiếp thêm gạo, vũ khí cho tiền tuyến. Những lúc ấy chúng tôi chỉ biết thầm cảm phục họ và đâu đây văng vẳng bên tai tôi lời hát “Đi chiến trường gùi trên vai nặng trĩu” là như thế đó. Gặp nhau chưa kịp chào câu “đồng chí” mọi người đã vội bước vượt lên rồi.

Tiếng thở dốc, tiếng bước chân nặng nề là vậy nhưng chẳng có ai lùi lại phía sau, tất cả đều cố gắng đi thật nhanh về phía trước”. Sự hào hứng trong lời kể của chị chỉ thoảng qua rồi nhường chỗ cho những nỗi niềm đau xé tâm can. Chị kể tiếp: “Càng đi vào trong chúng tôi càng gặp những cán bộ y tế đi ngược chiều cùng với những chiếc võng và trên đó là những người thương binh nằm bất động. Điều đó cho thấy chiến trường vẫn còn ác liệt và đơn vị chúng tôi cần đến ngày một gần hơn”

Sau ba tháng “trui rèn” tại đơn vị giữa chiến trường Đường 9 Nam Lào, chị Phượng và 3 đồng chí nữ cùng nhóm còn lại được phân công về Trung đoàn bộ Trung đoàn 541 nhận công tác, lúc bấy giờ gọi là Binh Trạm 41. Cấp trên phân công chị về làm “anh nuôi” của trung đoàn bộ. Vậy là một nhiệm vụ mới lại bắt đầu với chị.
(còn nữa)

Vợ chồng chị Phượng trong ngày cưới tháng 9/1981 (ảnh: NVCC)

Vợ chồng chị Phượng trong ngày cưới tháng 9/1981 (ảnh: NVCC)

Kì cuối: Vui buồn chuyện lính chiến

TPO – Sau ba tháng “trui rèn” tại đơn vị giữa chiến trường Đường 9 Nam Lào, chị Phượng và 3 đồng chí nữ cùng nhóm còn lại được phân công về Trung đoàn bộ Trung đoàn 541 mà lúc bấy giờ gọi là Binh Trạm 41. Cấp trên phân công chị về làm “anh nuôi” của trung đoàn bộ. Vậy là một nhiệm vụ mới lại bắt đầu với chị.

Chuyện làm “anh nuôi”!

Thời gian đầu được điều về làm “anh nuôi” chị cảm thấy hơi buồn vì chỉ có chị và Mão. Chiếc bếp Hoàng Cầm nằm cheo leo dọc theo sườn núi. Mùa mưa, củi không bén lửa, nhóm bếp đỏ hoe cả mắt. Có những hôm chị phải vừa nấu cơm, vừa đi kiếm củi. Lần đầu tiên chị biết thế nào là chia cơm cho đồng đội. Thức ăn hàng ngày là rau rừng, lá sắn, thỉnh thoảng mới có thêm bữa măng rừng luộc. Mỗi lần kiếm được măng ngon là các chị  mừng lắm, đúng như câu hát: “Hết rau rồi em có lấy măng không”. Còn cơm thì độn đến 2/3 là sắn khô xay nhỏ, hoặc bột mì trộn lẫn với bao nhiêu là con mọt. Thương cho anh em đồng chí đồng đội ăn độn nhiều sẽ nóng bụng nên chị luôn cố gắng đi thật xa để may ra hái được nhiều rau hơn về nấu canh cho anh em ăn mát ruột. Có hôm may mắn, chị còn bắn thêm được con sóc, con thỏ… để bổ sung thêm thực phẩm bồi dưỡng cho anh em đang ốm đau, bệnh tật.

Chị tâm sự: “Nhìn cánh lính ăn uống ngon lành là tôi cảm thấy rất vui và càng cố gắng hơn. Có mấy anh cứ đến nhận đồng hương để mong được “ưu tiên” thêm mấy miếng cháy. Có anh lại còn tỏ ra ân cần với tôi nữa chứ và toàn nói những lời có cánh. Mà sao lúc đó tôi ngố lắm có biết là họ tán tỉnh gì đâu, anh nào mà nói nhiều có khi lại còn bị ăn thêm mấy cái que cời bếp nữa chứ”. Nghe chị kể khiến chúng tôi cùng cười vang cả căn phòng.

Ký ức một thời lửa đạn: Kì cuối: vui buồn chuyện lính chiến - ảnh 1

Chị Phượng (thứ 3 bên trái) cùng đồng nghiệp trong chuyến công tác, chị là tư vấn xã hội cho dự án Phát triển tại Hà Giang năm 2007. (ảnh: NVCC)

Có người thường cho rằng lính tráng thì khô khan, sắt đá lắm, nhưng thực ra nếu ai đã từng là quân nhân thì đều phải công nhận rằng, bộ đội rất lãng mạn, rất tếu táo và nghịch ngợm nhưng luôn thật lòng. Thời gian được làm “anh nuôi” của chị Phượng cũng có nhiều kỷ niệm rất vui, đầy ắp tiếng cười. Chị kể cho chúng tôi nghe mà không giấu nổi tiếng cười: “Có chàng lính lẻn sang doanh trại của nữ thanh niên xung phong lấy trộm áo “coóc – xê” màu đỏ của chị em đem đến cái chợ trong bản người Lào Thưng đổi lấy mấy con gà. Lúc ăn gà vừa nhai vừa mỉa mai sao gà hôm nay già thế, người ngoài không biết cứ thắc mắc là gà ngon thế sao lại bảo già. Mấy hôm sau các o thanh niên xung phong đến tận lán trại đơn vị tôi bắt đền cánh lính trẻ. Mấy chàng tỉnh bơ không nói gì, tay chỉ xuống bụng ý nói “nó” đã chui vào hết dạ dày rồi. Các o ấm ức ra về tìm cách phục thù”.Có một kỷ niệm mà chị Phượng nói rằng chị không bao giờ quên. Đó là chuyện mấy đồng chí cùng đi với chị ra chợ và nhìn thấy con lợn của đồng bào ngon quá nhưng không có tiền mua. Thế nên các chàng lính đã chỉ tay vào chị và nói với mấy anh chàng người Lào rằng, có thể đổi “cái bộ đội này” để lấy con lợn. Người dân Lào Thượng vốn tính thật thà nên đã đồng ý trao cho mấy chàng lính một con lợn rồi chạy đến nắm tay chị kéo đi. Sợ quá, chị vội chạy một mạch về đơn vị. Mấy hôm sau các chàng trai Lào Thượng kéo đến đòi vợ. Chị lại đành phải trốn biệt dưới hầm và bị trung đội trưởng mắng. Nghĩ mà oan thật vì có phải tội của chị gây ra đâu mà chỉ tại mấy chàng lính công binh “quậy phá”. Đúng là lính luôn có những chuyện nghịch ngợm không giống ai nhưng nụ cười luôn thường trực trên môi của các chàng lính trẻ.

Chúng tôi cứ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác và “há hốc miệng” mà nghe chị kể chuyện về lính tráng. Chuyện vui có, buồn có, hú vía và hút chết đều có đủ cả. Một lần nọ, chị đi ra vườn tăng gia để hái rau thì bất ngờ máy bay Mỹ bay vè vè trên ngọn cây. Chị cho biết: “Đây là một loại “máy bay bà già” của địch, chuyên dùng loa để dụ dỗ. Bọn chúng ném cả những bó truyền đơn xuống bãi rau mà tôi đang nấp. Chiếc máy bay rà xuống sát vườn rau, tôi thầm nghĩ “chắc chắn là mình đã bị lộ”. Thế rồi chiếc trực thăng bay đến chỗ tôi và thả thang dây xuống như cố ý muốn bắt sống tôi. Nhìn thấy mấy tên lính ôm súng định nhảy dù nên chẳng còn cách nào khác, tôi đành chĩa súng bắn thẳng vào máy bay rồi chạy thục mạng về đơn vị. Tôi vội thông báo tình hình địch cho mọi người nắm rõ. Sau đó, chúng tôi nhận được lệnh hành quân gấp. Doanh trại chúng tôi vừa ở đã tan tành dưới những trận bom B52 oanh tạc. May mà tôi chỉ bị thủ trưởng phê bình. Đây có lẽ một bài học nhớ đời cho bản thân tôi”

“Ăn hỏi” vắng mặt

Ký ức một thời lửa đạn: Kì cuối: vui buồn chuyện lính chiến - ảnh 2

Chị Phượng (ngoài cùng bên trái) làm MC trong chương trình tổng kết năm của Dự án nước sạch 6 tỉnh miền Trung của Công ty tư vấn quốc tế CDM. Dự án này trực thuộc Trung tâm nước sạch Bộ NN&PTNT. (ảnh: NVCC)

Tháng 12 năm 1973 chị Phượng chuyển về đóng ở Khe Sanh, Tà Cơn (Quảng Trị) và được đơn vị cho đi phép về nhà thăm gia đình sau 3 năm nhập ngũ. Ba lô trên vai đựng vài bộ quần áo cũ, chị khấp khởi lên đường đi bộ từ Quảng trị về quê. Lắc lư hai ngày ngồi nhờ trên xe chở gạo chị cũng về đến nhà trong niềm vui khôn tả. Sau bữa ăn cơm mẹ chị nhắc luôn: “Lần này về mi lấy chồng đi chứ. Cũng đã 21 tuổi rồi còn gì, không lấy chồng thì ế đấy con ạ”.  Mấy năm ở lính có biết yêu là gì nên chị khẽ nói: “Con làm gì có ai mà lấy”. Mẹ chị đứng phắt dậy, nhìn chị như người từ hành tinh khác đến: “Tau cho mi nói lại. Mi nói, mi chưa có ai là răng? Thế cái anh người Thạch Khê ấy là răng? Tại sao năm ngoái họ lại mang cau trầu, lễ lạt đến nhà ta “ăn hỏi” mi?” Nghe vậy chị quá ngạc nhiên vì không hiểu gì hết. Mẹ chị bắt đầu kể lể rằng, nhà trai đã mang cả thủ lợn, gà, cau trầu, kẹo bánh đến “ăn hỏi” rồi. Và, họ còn nói là chị đã nhận lời yêu anh T. Lúc này chị mới mường tượng ra cái anh chàng T này.Chị nhìn chúng tôi cười giãi bày vì e bị hiểu lầm là thất hứa với người yêu: “Thật ra tôi có biết T là khi anh làm trung đội trưởng trung đội thông tin. Mấy lần anh ấy đi lên trung đoàn bộ họp có gặp tôi đang vắt vẻo trên nóc nhà Hội trường trung đoàn bộ lợp lại mái nhà. Gặp tôi là anh ta “cà cuống” mặt đỏ ửng lên. Tôi thề là chưa bao giờ anh ta đặt vấn đề “yêu” tôi. Thế mà lại bảo với gia đình đi “ăn hỏi” mới lạ chứ”. Chính vì vậy, phần vì tò mò và cũng vì muốn xem thực hư thế nào nên chị Phượng mặc nguyên bộ quân phục và rủ anh trai đi đến tận nhà anh T. Đến nơi, chị vừa  chào hỏi  được vài câu thì rất đông người trong họ nhà anh T đến xem mặt “cô dâu”. Một ông trạc trung tuổi xông ra bắt tay chị lắc lắc và nhìn chị chằm chằm, rồi nói: “Ồ o đã về. Cả nhà thấy chưa, nhà mình đi trước một bước là rất đúng. Bây giờ thì ván đã đóng thuyền rồi còn sợ gì nữa. Lúc đó chị ngớ người ra chẳng biết gì cả. Một bà khác chạy lại gần nhìn kỹ chị ở mọi tư thế rồi nhận xét như đinh đóng cột: “Cái ngữ này thì ngày phải cày được 3 sào ruộng chứ chẳng chơi”.

Ký ức một thời lửa đạn: Kì cuối: vui buồn chuyện lính chiến - ảnh 3

Chị Phượng tại Đại hội Hội Cựu chiến binh phường Thanh Nhàn lần thứ VII, tháng 3/2017. (ảnh: NVCC)

Sau đó một ngày, gia đình anh T lên gửi quà bảo chị mang vào đơn vị cho anh T và căn dặn “hai đứa nên tổ chức cưới trong đơn vị trước khi ra quân. Chị ậm ừ cho xong chuyện. Mẹ bàn với chị một viễn cảnh sẽ cưới chồng như thế nào. Chị giận dỗi bảo: “Con không yêu đương gì cả làm sao mà cưới. Mẹ thích thì mẹ đi mà lấy”. Đang ngồi thái rau lợn nghe câu trả lời ấy, mẹ chị cầm con dao dứ dứ vào chị. Trước tình cảnh ấy, mặc dù vẫn còn 5 ngày phép, nhưng  hôm sau chị đã vội vã trả phép để tìm “gặp lại cái tay Trung đội trưởng ấy cho lão ta một trận”. Lếch thếch ba lô trên vai chị đi bộ vào Quảng Trị. Ngày đi, đêm xin ngủ nhờ nhà dân, chị cũng đến được phà Long Đại. Tại đó chị nhận được tin đơn vị đã chuyển ra đóng quân tại cây số 9 đường 9 (Cam Lộ, Quảng Trị), cách Đông Hà 9 km. Việc đầu tiên trở lại đơn vị là chị đi tìm ngay đồng chí T để “xạc” cho anh ta một trận. Nhưng khi gặp mặt anh T chị lại chẳng nói được điều gì. Chị đưa lại toàn bộ quà của gia đình và nói với anh ta đúng một câu “Đồ dở hơi” rồi ra về. Tối hôm đó chị nghe có tiếng đàn ông khóc thút thít từ lán đơn vị thông tin vọng lại. Lát sau, mấy anh đồng hương Hà Tĩnh xúm lại mắng chị như tát nước. Chị thầm nghĩ, mấy cái ông này hay thật, tim mình có nói điều gì đâu, có bảo là yêu ai đâu mà lấy chồng. Thế nhưng theo quan niệm của quê chị, ngày ấy có người “ăn hỏi” rồi coi như đã lấy chồng. Lạ thật!

Nhận được thư nhà

Mặc dù chiến tranh đã qua lâu rồi, những câu chuyện về tình yêu, tình vợ chồng của lính chiến vẫn luôn thao thức trong trái tim người nữ CCB Lê Thị Mộng Phượng năm nào.

Chị kể cho chúng tôi nghe chuyện tình cảm của một cặp vợ chồng người lính chiến với giọng hồ hởi, phấn khởi: “Tôi còn nhớ anh Cầm người Nam Đàn (Nghệ An) rất yêu vợ, cứ năn nỉ bảo tôi đổi cho anh ấy một miếng vải lụa để cho anh gửi về tặng vợ (Vì là chiến sỹ nữ nên mỗi năm tôi được phát  2 bộ quần áo và một miếng vải lụa may quần). Tôi đồng ý đổi và anh ấy nhờ tôi viết dùm mấy chữ để có người đi phép anh sẽ gửi về cho vợ vì anh không biết chữ. Ba tháng sau, anh Cầm nhận được thư của vợ và bảo tôi đọc cho anh ấy nghe. Tôi vội mở lá thư ố vàng ra, chao ôi những con chữ to như con gà mái ghẹ cứ nhảy múa trước mặt tôi. Nói thật là lúc đầu đọc tôi rất buồn cười, nhưng nghĩ lại đó cả một nỗi niềm của người vợ nơi hậu phương  dành cho chồng ngoài mặt trân. Tôi vẫn còn nhớ những dòng thư mộc mạc, chân chất của chị ấy: Thầy nó kính mến. Em cảm ơn thầy nó đã gửi về cho em miếng vải lụa. Em thật cảm động. Mỗi lần đưa quần ra mặc em lại thấy bóng hình anh trong đó…”. Tôi đọc xong cầm lá thư của anh chạy mất tiêu, còn anh thì cố đuổi theo để lấy lại bằng được lá thư. Bởi lá thư đó chính là tình yêu của anh, là sợi chỉ mong manh còn kết nối anh với gia đình, hậu phương”

Vui đó, cười đó, rồi chị lại bùi ngùi tâm sự: “Cánh lính bọn tôi lúc đó có thư là chia nhau đọc, không phân biệt thư của anh hay của tôi. Đọc xong, có mấy người nước mắt cứ ngân ngấn, còn Thuần bạn tôi thì chạy về lán khóc rưng rức. Thuần người Nghi Đan (Nghi Xuân) yếu lòng hay khóc nhè, tôi thì chẳng việc gì phải khóc. Bốn năm đi lính chỉ nhận được một bức thư duy nhất của mẹ. Mẹ tôi viết bằng thơ hẳn hoi, tình cảm lắm, rất tiếc là không còn để được đến nay. Lính ta ít nhận được thư vì nếu người thân có gửi thì cũng bị thất lạc ít khi đến được tay người nhận. Bởi vì đơn vị đóng quân thường di chuyển địa điểm và quân nhân cũng thường chuyển đơn vị nhận công tác mới”

Đám cưới của lính chiến

Cuộc đời cũng công bằng đấy chứ, có buồn rồi ắt có vui. Năm 1973 sau khi hiệp định Paris được ký kết, cấp trên ưu tiên giải quyết xuất ngũ cho những chiến sỹ nữ trở về hậu phương. Có một chị quê Ninh Bình nhập ngũ từ năm 1964. Trước lúc xuất ngũ, khi thủ trưởng đơn vị hỏi có nguyện vọng gì, chị ấy trả lời: “Muốn có một tấm chồng”. Ôi mong ước giản dị rất đời thường nhưng sao lại khó thế. Chính ủy đơn vị suy nghĩ và hỏi xem chị ấy thích ai, yêu ai. Chị ấy đã nói ngay ra tên của một đồng chí tiểu đoàn phó là đồng hương với chị ấy cũng ở cùng Binh Trạm. Mối tình đơn phương đã được chị ấy chôn chặt trong lòng trong nhiều năm. Vậy là đồng chí tiểu đoàn phó được gọi lên với một “nhiệm vụ” là giúp Binh Trạm thực hiện nguyện vọng của chiến sỹ nữ trước khi xuất ngũ về hậu phương. Thế rồi một đám cưới cũng được tổ chức. Đơn vị mua một con bò về mổ thịt làm cỗ cưới.

Chị Phượng phấn khởi kể tiếp: “Tôi được điều sang tổ anh nuôi cùng một số cán bộ hậu cần được phân công nấu ăn làm cỗ đám cưới cho chị ấy. Với chiếc chảo to, bếp Hoàng Cầm cheo leo trên sườn núi, tôi đi xuống suối gánh nước đổ đầy mấy cái nồi quân dụng và nấu một nồi cơm thật to. Cánh lính nam thì làm thịt bò và xào nấu, chế biến các món ăn. Thỉnh thoảng lại được mấy anh vệ binh chạy đến nhắc nhở không được để khói nhiều vì vẫn sợ bị địch phát hiện sẽ ném bom. Trong khi tôi đang nhễ nhại mồ hôi nấu nồi cơm quân dụng to vật vã thì nghe thấy mọi người thấy kháo nhau cô dâu đã đến. Thế là tôi ba chân bốn cẳng chạy đi xem mặt cô dâu ngay mà quên cả nồi cơm đang nấu sắp chín. Vì vậy cả đơn vị hôm đó được ăn một bữa cơm khê do tôi mải xem cô dâu, chú rể. Cả Binh Trạm trầm trồ khen chú rể đẹp trai quá, còn cô dâu thì (biết nói thế nào nhỉ) da xanh xao, tóc lưa thưa, tuổi đã xấp xỉ chú rể. Như thế mới thấy chiến tranh cũng mất bình đẳng thật, làm phai tàn nhan sắc của bao nhiêu thiếu nữ …

Có thể nói, còn rất rất nhiều chuyện vui, chuyện buồn của cánh lính chiến mà nữ CCB Mộng Phượng đã kể cho chúng tôi nghe nhưng với khuôn khổ bài viết, tác giả xin hẹn các bạn vào một dịp khác.

Hà Nội – TP.HCM, tháng 7 năm 2017

BĂNG PHƯƠNG (GHI THEO LỜI KỂ CỦA NỮ CCB LÊ THỊ MỘNG PHƯỢNG)

Advertisements

2 Comments (+add yours?)

  1. Trấn huy yên
    Jul 26, 2017 @ 20:45:10

    Một thời hóa lửa, thật dũng cảm và trấn trọng

    Reply

  2. Quang Nguyen Thanh
    Jul 26, 2017 @ 15:27:56

    Tôi nhớ mùa hè 1979 ĐSQ tổ chức trại hè LHS Việt Nam ở làng Loves ,một làng quê nhỏ bé ,thanh bình nằm nép mình dưới dãy núi Rodopi, trại hè tổ chức các hoạt động thể thao , trong đó có trò chơi leo núi cướp cờ , BTC cắm hai lá cờ trên núi , một trên đỉnh cho phái mạnh , một lưng chừng núi cho chị em . Sau hiệu lệnh mọi người đua nhau trèo núi … chị Phượng sau khi giành được cờ cho phái yếu ,chị tiếp tục leo lên giật nốt cờ của phái mạnh . Khi chị xuống đến lưng chừng núi bọn tôi , tốp đầu tiên vẫn đang leo được 1/3 quãng đường và đang tính bỏ cuộc …

    Reply

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Free counters!

%d bloggers like this: