Hồi ức Bulgaria


1. Hành trình sang Châu Âu

Mùa thu năm 1976 chúng tôi bắt đầu lên tầu sang Châu Âu du học với 12 ngày đêm trên chuyến chuyên xa cùng hàng trăm sinh viên tỏa sang Liên xô và các nước Đông Âu. Lần đầu tiên xa gia đình đến một nơi xa xôi và lạ lẫm cả về văn hoá lẫn phong tục tập quán, chúng tôi ai cũng trong tâm trạng không tránh khỏi băn khoăn. Con tầu đưa chúng tôi đến biên giới phía bắc để chuyển sang tầu liên vận quốc tế là con tầu vẫn còn mang màu sắc thời chiến – sơn bong, không cửa, ghế gỗ cứng, không nước, không điện v.v. Mặc dù vậy nhưng tất cả chúng tôi với niềm hào hứng ra nước ngoài để học hỏi, để mang kiến thức và công nghệ hiện đại về xây dựng và hồi sinh đất nước sau cuộc chiến 30 năm khốc liệt và bị tàn phá hầu như chẳng còn gì.

Gần 7 ngày đêm xuyên qua lãnh thổ Trung Quốc chúng tôi đã chứng kiến một đất nước Trung Hoa trong thời kỳ cách mạng văn hoá – một màu xanh công nhân mà tất cả những công dân Trung Quốc chúng tôi gặp trên đường đều mang. Họ lầm lũi làm việc và luôn nhìn chúng tôi với cặp mắt vừa xa lạ vừa tò mò, ngay cả những nhân viên phục vụ trên tầu cũng vậy. Họ làm việc rất cẩn thận, chu đáo nhưng không bắt chuyện. Chúng tôi thường được xuống thăm khi tầu cặp lại những ga lớn và mua những đồ kỷ niệm lặt vặt như bấm móng tay, chỉ thêu, cao hổ cốt, đăng ten v.v.

Do quan hệ giữa Nga và Trung quốc đang căng thẳng về vấn đề biên giới nên tầu của chúng tôi không thể vào Liên xô theo lịch trình đã định mà phải vòng qua đất nước Mông Cổ. Do đó chúng tôi không được vào Bắc kinh mà chỉ đến ngoại ô rồi sau đó sang Mông cổ. Xuyên qua vùng thảo nguyên mênh mông rất hiếm bóng người và chỉ thấy xa xa bóng các đàn cừu đang gặm cỏ trên thảo nguyên khô cằn và xơ xác trong tiết thu. Người dân Mông cổ rất mến khách nhưng chúng tôi không thể thưởng thức các món ăn mà họ thết đãi vì chúng tôi không biết ăn thịt cừu. Qua một ngày đêm trên thảo nguyên chúng tôi chỉ ăn được món cơm chiên mỡ cừu. Chúng tôi dừng lại thủ đô Mông cổ – Ulan Bator – nhà cửa thưa thớt và hết sức nghèo nàn.

Tầu của chúng tôi tới Mat-xơ-cơ- va vào một buổi sáng chớm đông sau 11 ngày đêm xuyên Á. Tại đây đoàn sinh viên du học được tách ra và tỏa về các nước cộng hoà của Liên xô và các nước Đông Âu. Đoàn sinh viên sang cộng hoà Bulgaria chỉ còn lại bốn mươi người, chúng tôi được phát tiền ăn và tự lo việc ăn uống trong một ngày đêm. Thật là cười đến chảy nước mắt khi đến bữa chúng tôi đưa nhau đến toa ăn được phục vụ trên tầu. Thấy các hành khách mua được món gà chiên, chúng tôi thích quá nhưng lại gọi nhầm món phó mát vì không thạo ngôn ngữ – tất cả đã phải lắc đầu vì không thưởng thức nổi.

Xuất phát từ thủ đô quê hương ngày 20 tháng 8 năm 1976 chúng tôi tới ga Sôphia vào khoảng tám giờ tối giờ địa phương ngày 31 tháng 8. Ra đón chúng tôi tại ga có các cán bộ Đại sứ quán và các lưu học sinh năm trước và theo truyền thống chúng tôi được chiêu đãi món cháo gà sau một hành trình dài mệt nhọc. Không thể tả được rằng chúng tôi cảm động như thế nào trước tấm lòng của những người đồng hương, buổi đón tiếp rất giản đơn nhưng ấm áp tình người. Và như thông lệ chúng tôi được thu xếp sống tại khu nhà chung cư dành cho sinh viên nước ngoài học tiếng tại cây số 4 Đại lộ Lênin.

2. Năm dự bị trường tiếng

Sau khi nghỉ ngơi vài ngày chúng tôi bắt đầu một năm học mới – năm dự bị đại học. Mặc dù đã học 6 tháng tiếng ở trong nước nhưng khi sang tới nước bản ngữ nghe người ta nói mới thấy vốn ngôn ngữ được trang bị còn quá ít – phát âm chưa chuẩn cũng là một trở ngại không nhỏ trong giao tiếp – người bản xứ nói mình không hiểu và mình nói người ta cũng không hiểu nốt. Thật tức cười khi ngôn ngữ bất đồng.

Mỗi tuần chúng tôi học 5 buổi sáng ở trường, thời gian còn lại nhà trường tổ chức cho sinh viên đi tham quan viện bảo tàng, các danh lam thắng cảnh, các di tích lịch sử giới thiệu về lịch sử hình thành và phát triển của đất nước họ, đi dã ngoại và thưởng thức hương vị ẩm thực của các vùng quê. Các buổi đi như vậy được lên kế hoạch rất chặt chẽ trong chương trình ngoại khoá. Chúng tôi thường đi mua sắm quần áo, vật dụng cá nhân vào các ngày thứ bẩy hàng tuần. Với số tiền học bổng khiêm tốn chúng tôi phải cố gắng chi tiêu khéo léo để làm sao mua được những vật dụng phù hợp với túi tiền và đáp ứng các giá trị sử dụng, tiết kiệm một chút để mua quà gửi về gia đình mỗi khi có người đồng hương kết thúc việc học tập của mình và trở về nước.

Năm học tiếng chúng tôi được dịp tiếp xúc với sinh viên đến từ rất nhiều địa lục, quốc gia trên thế giới – Nhiều nhất là đến từ các nước Châu phi, các nước ả Rập, các nước châu Á, các nước Châu Âu và Châu Mỹ (Nam Mỹ) . Chi phí đào tạo tại các nước Liên xô và đông Âu thường rẻ hơn so với các nước Tư bản Chủ nghĩa trong khi bằng tốt nghiệp đại học tại đây được công nhận trình độ quốc tế và được chấp nhận tương đương tại các nước Tây âu khi xin việc làm ở đó. Chúng tôi thường đùa rằng Trường học tiếng này mang màu sắc một ngôi nhà chung của thế giới – hội đủ các sắc tộc và màu da.

Ở ký túc xá chúng tôi thường được xếp ở cùng với các sinh viên lớp trên để tiện cho việc học và trau dồi ngôn ngữ. Tôi được xếp ở cùng với một chị người Nam tư học trường Đại học tổng hợp Sôphia. Chị là người tốt bụng nhưng khá khó tính và hay bắt bẻ trong ăn ở. Thí dụ một trường hợp – Một buổi tối tôi gội đầu, nhưng vì chưa mua được máy sấy tóc nên tôi đã bật bếp điện lên để làm khô tóc vì nếu đi ngủ mà để tóc ướt thì rất nguy hiểm đến tính mạng. Không may mấy sợi tóc vương rơi vào bếp bốc mùi khét, thế là chị làm ầm lên và tôi cự lại quyết liệt. Quản lý ký túc xá phải can thiệp. Lúc cãi nhau sao tôi nói lưu loát thế. Mọi người đều không ngờ rằng tôi có thể tranh luận để chị người Nam tư phải khóc vì thua. Nhưng thật bất ngờ sau sự cố như vậy chúng tôi lại trở lên rất thân nhau.

Những tháng học tiếng thật là vui – vừa học vừa chơi theo đúng nghĩa. Suốt ngày đầy ắp tiếng cười nhưng cũng vương vấn nỗi nhớ quê hương, gia đình và bạn bè da diết. Khoá học tiếng đã kết thúc tốt đẹp vào mùa hè năm 1977. Mùa thu năm đó chúng tôi ai nấy lại nhập trường để học chương trình đại học như đã được phân công học theo chuyên ngành theo yêu cầu của đất nước. Tôi được phân công theo học ngành Kinh tế Nông nghiệp. Và ngôi trường mới của tôi mang tên “Trường Đại Học Kinh Tế Các Mác Sôphia”.

3. Đại học Kinh tế Các Mác Sôphia

3.1. Thời sinh viên

Tôi nhập học vào trường đại học kinh tế từ khoa Ngoại quốc bởi ngay sau khi kết thúc khoá dự bị họ chuyển thẳng hồ sơ của chúng tôi về các khoa ngoại quốc của các trường tương ứng. Tất cả học sinh là người nước ngoài đều phải chịu sự quản lý của khoa dành riêng cho người nước ngoài này. Họ theo dõi việc học tập, ăn ở và chi trả học bổng hàng tháng cho chúng tôi. Về chuyên môn tôi theo học tại Khoa Kinh tế, tổ chức và quản lý sản xuất Nông – Công nghiệp, Bộ môn Kinh tế và kế hoạch hoá. Khoá của chúng tôi có tất cả 105 sinh viên, trong đó chỉ có 8 sinh viên nước ngoài – 4 từ Việt Nam ( Tôi, A. Toan, Chị Hường và Kiều Thu), 2 đến từ Công Gô, 1 từ Ethiôpia và 1 từ Zimbavê. Số báo danh của tôi là 405. Chúng tôi chỉ học tập trung tại giảng đường lớn khi học lý thuyết, còn khi thực hành thì chúng tôi học theo các lớp nhỏ khoảng 20 sinh viên. Ngoài các môn học chung với sinh viên bản xứ, các sinh viên nước ngoài phải học thêm hai ngôn ngữ bắt buộc là tiếng Bun và tiếng Nga. Các bạn có hình dung được những khó khăn của những sinh viên ngoại quốc trong học tập không? Những năm đầu do tiếng chưa thạo nên việc nghe giảng trên lớp cực kỳ khó khăn. Ở trên lớp thầy nói gì chúng tôi cũng ghi hết mặc dù chẳng hiểu hết ý nghĩa của câu nói. Sau khi về nhà đọc lại mới thấy phì cười vì ghi cả những cái dở hơi chẳng liên quan gì đến bài giảng cả. Phải đến năm thứ ba chúng tôi mới có thể ghi chép thành thạo hơn, trình bầy lưu loát hơn. Thông thường sinh viên Việt Nam học ở nước ngoài giỏi các môn tự nhiên hơn là học các môn xã hội lắm chữ. Môn toán là môn mà các bạn người Bun nể nhất vì các môn này chúng tôi thường được miễn thi còn nếu thi thì bao giờ cũng đạt điểm tối đa.

Những sinh viên Việt nam ngoài việc chịu sự quản lý của trường học, chúng tôi còn chịu sự quản lý mọi mặt của Đại sứ quán. Chúng tôi không được phép học trung bình mà phải học giỏi, học khá đã bị khiển trách rồi, nếu học trung bình thì phải ra ga tàu về nước. Chúng tôi đã bị sức ép rất ghê gớm trong học tập, còn trong sinh hoạt cũng phải nằm trong khuôn phép rất khắt khe – Không được đi đâu một mình mà phải ít nhất có hai người đi cùng, nam nữ không được phép ngồi nói chuyên trong phòng mà đóng cửa thậm chí còn bị cấm yêu trong thời gian học tập ở nước ngoài nhất là đối với sinh viên năm thứ nhất và thứ hai – khẩu hiệu hàng đầu là tất cả dành cho học tập. Nhưng trước sức ép của cuộc sống hiện đại dần dần các quy định quá khắt khe đó đã bị bãi bỏ, chúng tôi được nhiều tự do hơn, được tự do yêu đương – nhưng chỉ nội bộ người việt với nhau – vấn đề cơ bản là phải đạt yêu cầu đặt ra đối với kết quả học tập: giỏi và xuất sắc. Năm thứ nhất đối với tôi đã trôi qua khá suôn sẻ – Hầu hết các môn thi đều đạt điểm tối đa – xuất sắc, chỉ có hai môn trong 9 môn đạt điểm giỏi. Theo sẵn đà đó những năm sau tôi đều đạt danh hiệu học sinh xuất sắc. Giấy khen cả đống. Và cho toàn khoá học tôi đã được Bộ Đại học Bulgaria và Đoàn Thanh niên Đimitrốp tặng huy chương vàng. Và đây cũng chính là cái vé vào cửa mở ra một cách hứa hẹn để tôi tiếp tục học tiếp lên. Một hình phạt tôi phải trả giá cho thành tích học tập của mình là đến năm thứ ba tôi bị cận thị do đọc sách quá nhiều và tôi phải đeo kính cận cho đến tận bây giờ chưa bỏ được ra.

Theo chế độ đối với tất cả sinh viên ở tất cả các trường đại học ở Bulgaria bất kể là người bản xứ hay người nước ngoài nếu có kết quả học tập xuất sắc toàn năm học sẽ được thưởng một phiếu nghỉ mát – lên núi hoặc xuống biển. Tất cả mùa hè sống ở Bulgaria tôi đều tận dụng triệt để cơ hội mà mình được ban tặng. Cứ sau mỗi năm học tôi đều mang học bạ lên Bộ đại học để lĩnh phiếu nghỉ mát. Tiêu chuẩn một phiếu nghỉ bao gồm một giường để ngủ tại nhà nghỉ dành cho sinh viên tại các khu nghỉ mát, ba bữa ăn đầy đủ trong hai tuần. Những cặp yêu nhau thường rủ nhau đi nghỉ cùng đợt và cùng một nơi. Và tôi cũng không ngoại trừ, tôi và người tôi yêu (học trên tôi hai lớp) thường đi nghỉ cùng nhau và chúng tôi có nhiều kỷ niệm chung. Ngoài giờ học tập chúng tôi cùng nhau sinh hoạt văn hoá thể thao. Năm nào sinh viên Việt nam tại Sôphia cũng tổ chức thi đấu thể thao và hội diễn văn nghệ. Tôi cũng là một trong các thành viên tham gia tích cực mọi phong trào – là một vận động viên bóng chuyền, diễn viên không chuyên bắt buộc của những đêm hội diễn – ca sĩ, diễn viên kịch, diễn viên múa. Tham gia liên hoan học sinh, sinh viên quốc tế do nước sở tại hoặc nhà trường tổ chức. Nói tóm lại tôi không từ bỏ bất cứ cơ hội nào tham gia vào các phong trào thể thao văn hoá và xã hội được tổ chức trong thời gian là sinh viên. Chính vì vậy lúc nào tôi cũng cảm thấy thiếu thời gian.

Những kỷ niệm khó quên và ấn tượng đối với chúng tôi là mỗi khi tết đến (tết dương lịch và tết âm lịch). Tôi là nữ nên thường phải đảm nhiệm việc bếp núc và chuẩn bị cho bữa tiệc cuối năm – hầu như phải đóng vai bếp trưởng. Tết đến chúng tôi thường gửi thiệp cho nhau gài vào hộp thư của mỗi phòng đặt tại tầng một của ký túc xá – tuy biết ai là chủ gửi các bức thiệp nhưng khi nhận vẫn thấy hồi hộp. Nhất là đối với những thư được đóng dấu đỏ của bưu điện – thường thư gửi đến từ quê hương hoặc của bạn bè ở nơi xa. Vào các dịp tết nguyên đán mặc dù tổ chức ở nơi đầy tuyết trắng nhưng chúng tôi vẫn có hoa đào – làm bằng giấy nhưng trông như thật. Tôi và một cô bạn nữa ( Kiều Thu) phải chuẩn bị cành hoa đó trước từ mấy tháng – nhuộm giấy hồng làm cánh, giấy xanh làm lá, len vàng làm nhuỵ, cành mận thay cành để gắn hoa và lá lên – nhìn đào để tạo cảm giác ngày xuân đất việt cho đỡ nhớ nhà. Chúng tôi đâu có được về nghỉ phép thăm nhà trong dịp hè . Hè nào cũng vậy tất cả học sinh Việt nam đều phải đi lao động từ 15 ngày đến 1 tháng để lấy tiền gửi về giúp đỡ đất nước – chủ yếu làm trong các nhà máy chế biến hoa quả. Những ngày hè còn lại chúng tôi thường hợp lại thành những nhóm nhỏ có cùng sở thích tự nấu ăn và tổ chức các buổi tối – cùng nhau đàn hát và khiêu vũ. Có thể nói đây là thời gian đẹp nhất trong cuộc đời tuổi trẻ của tôi nó đã giúp tôi bù lại những mất mát và thiệt thòi mà tôi đã phải gánh chịu trong thời kỳ chiến tranh.

Trong thời gian học tập ở Bulgaria tôi đã có cơ hội đi hầu hết các vùng quê ở đó, thưởng thức hầu hết các đặc sản nơi tôi đã đến. Tôi đã được đi thăm hầu hết các nước Đông Âu trừ Ban Lan và Nam tư. Đến cuối khoá học cùng với kết quả học xuất sắc toàn khoá và kết quả thi tốt nghiệp đạt loại ưu tôi đã giành được một trong 5 suất học bổng để học tiếp lên lấy bằng Phó tiến sĩ kinh tế ( nay là tiến sĩ). Mọi người thường đùa tôi rằng – tôi đã thực hiện một bước lùi để tiến ba bước – Năm đầu tiên sau khi tốt nghiệp phổ thông tôi phải ở nhà lao động sản xuất thay mẹ ốm thập tử nhất sinh để nuôi sống gia đình, năm tiếp theo tôi thi tiếp đại học nhưng thiếu điểm vào trường theo nguyện vọng, nên đành chấp nhận học dự bị Đại học Tổng hợp thêm một năm nữa để đuợc theo học ở trường tốt hơn. May mắn đã mỉm cười với tôi, lần này tôi đạt điểm cao để đi du học tại Bulgaria.

Дървеница – Thành phố sinh viên 

3.2. Thời nghiên cứu sinh

Sau khi tốt nghiệp đại học (năm 1982) tôi được về nước nghỉ phép. Trong thời gian chờ đợi để quay lại làm nghiên cứu sinh tôi đã kịp lấy chồng. Tôi đã cưới người tôi yêu từ những năm học đại học. Chúng tôi học cùng trường cùng ngành, anh trên tôi hai lớp và đã về nước đi làm trước đó hai năm. Trong thời gian này cuộc sống ở trong nước cực kỳ khốn khó với chế độ tem phiếu cái gì cũng thiếu. Tôi không thể hình dung hết được khả năng chịu đựng của con người và chỉ biết rằng mình đã may mắn không phải hứng chịu cảnh thiếu thốn về vật chất mà những người dân đã phải gánh hậu quả sau chiến tranh.

Tôi trở lại Sôphia vào đầu tháng 12 năm 1982 trong khi không biết rằng mình đã mang trong mình một mầm sống. Suốt ngày lúc nào cũng buồn ngủ và chỉ thích ăn món phiđe cá hộp mà không biết rằng mình đang nghén. Sau khi ăn tết dương lịch năm 1983 chúng tôi bắt đầu chương trình nghiên cứu. Tôi lại về ngôi trường cũ và làm tiếp các công việc đang dang dở của thời sinh viến còn để lại. Điều thuận lợi đối với những sinh viên chuyển tiếp nghiên cứu sinh là đề tài đã được xác định – nâng tầm luận văn sinh viên thành luận văn phó tiến sĩ, do vậy các vấn đề về chuyên môn, phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đã được chuẩn bị từ trước nay chỉ cần đi sâu thêm là ổn. Chương trình nghiên cứu là 36 tháng, trong đó 12 tháng đầu chúng tôi phải thi các môn tối thiểu gồm: triết học, kinh tế chính trị học và môn chuyên ngành. Tôi đã không cho ai biết rằng tôi đang có mang và lúc đó đang là mùa đông đi ra ngoài mặc áo dầy nên hầu như không ai nhận ra. Đây lại là một rắc rối lớn đối với tôi. Theo quy định chúng tôi không được phép có con trong thời gian học tập và nghiên cứu (mặc dù đã có gia đình), tôi đã vi phạm quy chế. Các cán bộ quản lý ở đại sứ quán khi biết chuyện mặc dù không ai gặp trực tiếp đặt vấn đề này với tôi, nhưng họ đã họp và bàn về việc xử lý trường hợp của tôi. Và như vậy đã hình thành hai phe (tôi biết được từ một anh bạn trong Ban quản lý lưu học kể lại sau đó): Một phe đề xuất đưa tôi về nước sinh con và chấm dứt việc nghiên cứu sinh của tôi, phe khác thì đồng ý để tôi tiếp tục vừa sinh, nuôi con và tiến hành công tác nghiên cứu vì lúc này tôi đã thi gần xong các môn tối thiểu và toàn đạt điểm tối đa và vì một lý do nữa là nếu để tôi về thì Việt Nam mất luôn suất học bổng đó do không thể chuyển cho ai khác.

Cuối cùng thì không còn ai nhắc gì đến việc xử lý tôi nữa và tôi cứ tiếp tục công việc của mình một cách bình thường coi như không có chuyện gì xảy ra. Tất nhiên những khó khăn mà tôi phải đối mặt trong thời gian này rất khủng khiếp – tôi phải nuôi con một mình không có sự giúp đỡ của gia đình. Để có sự giúp đỡ của chồng cũng như hợp lý hoá gia đình tôi đã cố gắng làm hết sức. Bước đầu là việc vận động nhà trường nơi tôi đang nghiên cứu đề họ đề nghị Bộ Đại học Bulgaria đồng ý dành một suất thực tập sinh cho anh. Nhưng vì không được phê duyệt trong kế hoạch tài chính nên đành gác lại.Sau đó tôi lại xoay sang cùng anh tìm một suất đi quản lý lao động. Bên Bộ Lao động và Cục xuất khẩu lao động đồng ý thì một trở ngại lớn là cơ quan anh không cho đi. Lúc đó ai mà đang làm tại một cơ quan mà xin thuyên chuyển công tác khác là việc không thể chấp nhận được và coi như là một kẻ phản bội đáng bỏ đi. Khi thấy anh quyết tâm ra đi vì thương tôi vất vả thì lãnh đạo Viện nơi anh công tác ra quyết định cuối cùng như là tối hậu thư – Muốn đi thì phải làm đơn xin thôi việc và khi hết hạn lao động ở nước ngoài thì tự lo việc ở ngoài như lao động tự do và mọi quyền lợi từ khi đi làm đến khi tự thôi việc coi như là mất không được tính. Trong tình thế đó anh đã hỏi ý kiến tôi và tôi quyết định anh không nên đi nữa tôi sẽ vừa học tập, nghiên cứu vừa chăm sóc con.

Khi cháu được tròn 8 tháng tuổi – độ tuổi mà nhà trẻ có thể nhận trông cho những bà mẹ đơn thân và có hoàn cảnh khó khăn – tôi quyết định cho cháu đi nhà trẻ bán trú: một tuần ba buổi tối ngủ lại nhà trẻ với các cô bảo mẫu và bốn buổi về nhà với mẹ. Thế là một suất học bổng nuôi cả hai mẹ con vì lúc đó ở Việt Nam tình hình kinh tế rất khó khăn. Cán bộ công nhân viên nhà nước mà không kiếm thêm được ngoài thì lương không đủ ăn lấy đâu tiền gửi sang nuôi con ở nước ngoài. Cũng may cháu đi trẻ ở đây được miễn phí (chi phí cho trẻ đựơc đóng góp theo tỷ lệ % tính trên thu nhập của cha mẹ hoặc người nuôi dưỡng, còn đối với những người sống bằng học bổng hoặc thu nhập thấp thì hưởng chế độ miễn phí). Tôi đã huấn luyện cháu theo chế độ ăn ngủ rất nghiêm ngặt. Đúng giờ cho ăn, đúng giờ cho chơi và đúng giờ phải đi ngủ. Cho nên ngoài giờ ăn và tự chơi, khi cháu ngủ tôi có thể đi thư viện hoặc đi chợ trong khoảng từ 1,5 – 2 tiếng đồng hồ mà không sợ cháu thức giấc mà không có mẹ bên cạnh. Cuộc sống của hai mẹ con thật tuyệt vời, vui vẻ và hạnh phúc. Tôi luôn được sự giúp đỡ chân tình của cộng đồng người việt đang sống, học tập và làm việc tại Bulgaria lúc đó cũng như sự thông cảm và giúp đỡ tận tình của các giáo sư và các đồng nghiệp.

Cuộc sống cứ trôi đi theo năm tháng và mọi việc cũng vẫn trôi theo dòng đời của nó. Hàng ngày đi thư viện đọc sách, gặp gỡ đồng nghiệp trao đổi công việc, tham gia các hoạt động văn hoá thể thao cùng với sinh viên Việt Nam đang học tập tại trường kinh tế và tại Sôphia. Vì kinh phí có hạn nên những công việc gì liên quan đến luận văn tôi đều cố gắng tự làm lấy – tự đánh máy luận văn trên chiếc máy chữ mà một người bạn đã cho mượn. Ngày đó chưa có máy vi tính như bây giờ, nên mọi việc hầu như tiến hành thủ công. Tôi có sử dụng phương pháp toán thống kê và phương pháp toán kinh tế để giải quyết vấn đề kinh tế trong luận văn nên được trung tâm máy tính của nhà trường giúp đỡ. Máy giải bài toán là của Cộng hoà Dân chủ Đức EC 2020 to có cỡ. Giải có khoảng trên chục môdun và một bài toán tối ưu quy mô nhỏ mà phải mất tới hai giờ máy, chưa kể thời gian tôi phải lập bằng tay các mô dun và bài toán mô hình để các chuyên gia máy tính đưa vào máy đục lỗ để chuyển sang ngôn ngữ của máy tính.

Trong những giờ rảnh khác ở đây những người có vốn liếng thì họ tham gia buôn bán để lấy tiền mua hàng hoá gửi về Việt Nam giúp đỡ gia đình, còn tôi phải tranh thủ kiếm thêm bằng việc may thuê quần jean hoặc áo băng đạn để lấy tiền trang trải cho các chí phí làm luận văn, chiêu đãi bạn bè khi bảo vệ và chi phí cho việc hồi hương.

Hôm bảo vệ, bạn bè đi dự cổ vũ tôi cũng khá đông, nhưng một sự cố đặc biệt mà xảy ra hôm đó thì cũng gây rắc rối không nhỏ. Hội đồng đánh giá luận án rất đông gồm tất các các chuyên gia đầu ngành làm công tác nghiên cứu và giảng dạy thuộc chuyên ngành nông nghiệp và kinh tế nông nghiệp trên toàn Bulgaria tụ họp lại. Về nguyên tắc phải đủ 2/3 số thành viên của Hội đồng thì mới đủ điều kiện để tổ chức buổi bảo vệ. Vị giáo sư trưởng bộ môn của tôi hôm đó bị tắc đường nên suýt nữa không đến kịp. Khi vị Chủ tịch Hội Đồng vừa định tuyên bố hoãn thì Ông xuất hiện ngay tại cửa ra vào và lên tiếng xin lỗi Hội Đồng. Nếu như Ông không đến kịp trước khi vị Chủ tịch lên tiếng thì coi như buổi đó bị hoãn vì ông là người cuối cùng đảm bảo nguyên tắc 2/3. Sau này Ông thường đùa rằng Ông luôn là điều may mắn cuối cùng cho tôi. Buổi bảo vệ đã thành công tốt đẹp (Tháng 2/1986) kết thúc cuộc đời nghiên cứu sinh của tôi đầy gian nan và vất vả. Như vậy cuộc sống học tập và nghiên cứu kéo dài 10 năm tại Bulgaria của tôi đã khép lại và tôi sống và làm việc với cuộc đời công chức, viên chức tại Việt Nam không ít sóng gió cho đến tận bây giờ. Nhưng ơn trời tôi vẫn sống tốt. Cảm ơn cuộc đời và các bạn của tôi.

Nguyễn Thị Băng

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Free counters!

%d bloggers like this: