Hoa thủy huệ – những đứa con của mặt trời


Một trong những loài hoa đẹp và thơm hương nhất nở vào mùa xuân đó là hoa Lily. Water lily tiếng Việt gọi là hoa súng, hoa huệ nước, hoa thủy huệ hay còn có các tên gọi khác như tử bích hoa, thụy liên (hoa sen ngủ). Do hoa nếu nở vào giờ tý thì giờ ngọ tàn, nở vào giờ ngọ thì giờ tý tàn nên còn có tên gọi là tý ngọ liên hay hoa sen nở giờ tý, ngọ…

Chẳng biết mây khói đêm nay tự thưở nào,
Chẳng hay thụy liên chiều xuống lại ra sao…
Chỉ nguyện hóa thân làm vần cổ thi Đường Tống,
Nghìn thu kề cận người.

Thủy huệ còn được gọi là “con của mặt trời” vì những bông hoa xinh đẹp nở vào lúc bình minh và khép lại vào lúc mặt trời lặn.

Có nhiều truyền thuyết và chuyện cổ tích kể về những con gia tinh nhỏ, ban ngày chúng ngủ trong bông hoa thủy huệ, còn buổi tối chúng đung đưa cành hoa. Từ chiếc đầu nhỏ hình chiếc chuông của bông hoa vang lên giai điệu du dương mà chỉ có các chú yêu tỉnh nhỏ có thể nghe thấy và chúng nhảy múa suốt đêm trong điệu nhạc. Buổi sáng chúng lại ngủ trong những chiếc chuông hoa nước dịu dàng.

Theo truyền thuyết Slavơ, hoa thủy huệ gắn liền với các nàng tiên cá bí ẩn. Truyền thuyết Bắc Âu nói rằng mỗi bông hoa lily có một con gia tinh làm bạn từ lúc sinh ra và chết đi cùng với hoa.

Có không ít những truyền thuyết về loài hoa này. Phổ biến nhất là truyền thuyết mô tả trong thần thoại Hy Lạp. Thần Zeus sấm sét lừa dối vợ là Hera qua lại với người đẹp Alcmene. Từ tình yêu của họ sinh ra cậu con trai – Hercules. Hera ghen tuông quyết định trả thù và thề giết chết đứa bé. Nhưng khi nhìn thấy cậu bé, bà xúc động, và thay vì giết chết nó, bà muốn cho đứa nhỏ bú. Tuy nhiên Hercules bé bỏng nhận ra bà là kẻ thù của mẹ mình và cắn vú bà. Khi đó Hera giận dữ đẩy đứa bé ra và từ nơi bị cắn chảy ra sữa và máu. Từ dòng sữa tạo nên dải Ngân Hà (Milky Way), còn nơi những giọt sữa rơi xuống mặt đất mọc lên những bông hoa huệ….

Theo thần thoại Hy Lạp, thủy huệ là một nữ thần màu trắng, nhưng nàng đã chết vì tình yêu với Hercules vô cảm và nàng biến thành một bông hoa đẹp.

Đối với người Hy Lạp và La Mã, Lily là hoa của tình yêu. Họ dùng hoa trong các nghi lễ thờ cúng nữ thần Venus và Aphrodite.

Truyền thuyết kể rằng khi nữ thần Venus ra khỏi bọt biển, bà trông thấy Lili và cảm thấy đầy ghen tị và thù hận với màu trắng và vẻ đẹp của hoa. Coi hoa như là một đối thủ cạnh tranh với vẻ đẹp sở hữu của mình, bà đã khiến cho vòi nhị hoa to lớn tới mức chồi ra khỏi nhuỵ hoa trắng như tuyết. Kể từ đó, hoa gắn liền với Venus và Satyrs, những người là hiện thân của sự nhiệt tình đam mê.

Khi các ngôi sao rơi xuống mặt đất, chúng biến thành những bông hoa và những bông hoa này là hoa lily. Truyền thuyết này đã mang đến một cái tên khác cho hoa Lily “Sao của trái đất”.

Cái tên Lily xuất phát từ ngôn ngữ Gaelic cổ xưa và từ Li li có nghĩa là trắng-trắng.

Hoa Lily đồng hành xuyên suốt lịch sử. Quê hương của Lily là Ba Tư (Persia) – cái nôi của nền văn minh. Thời Ba Tư cổ đại, Lily là một phần của quốc huy.  Thủ đô của Ba Tư là Susa, mà dịch nghĩa là thành phố của hoa huệ.

Các Pharaon Ai Cập cũng tôn kính sâu sắc hoa này. Tại trung tâm cung điện của mình, họ phải có một cái ao nhỏ với hoa thủy huệ.

Loài hoa này được đánh giá cao trong thời Trung Cổ. Một triều đại của hoàng gia Ấn Độ thời Mughal đưa hoa Lily lên thành thần tượng. Sự ngưỡng mộ loài hoa này không chỉ sinh ra những truyền thuyết mà còn để lại hình ảnh của mình trên các di tích ở Assyria và Ai Cập.

Thủy huệ tượng trưng cho sự hùng biện. Người Ai Cập thường dùng hoa súng dâng cho thần Mặt trời (vị thần của sự hùng biện).

Sau đó nó được tìm thấy hình ảnh hiện trên đồng tiền. Lily được khắc hoạ trên đồng tiền La Mã và đồng florin của Pháp từ thời Louis IX. Vua Louis XIV đưa vào lưu thông tiền với hình của hoa lily bằng vàng và bạc.

Hoa Lily chiếm một vị trí đặc biệt trong lịch sử nước Pháp. Đây là loài hoa của lòng dũng cảm và chủ nghĩa anh hùng của người Pháp.

Jana of Arc sau khi chết đã được phong thánh và được gọi là Jana of Arc du Lily / Liliyna /, còn huy hiệu của bà vẽ một thanh gươm trên nền màu xanh với một vòng hoa huệ quấn xung quanh.

Thời vua Louis IX trị vì hoa Lily đã trở thành một phần của quốc huy. Từ đó có biệt danh Vua của Lily (Thánh Louis) và nước Pháp – đất nước của hoa Lily. Ba bông hoa Lily bằng vàng trên lá cờ của hoàng gia có ý nghĩa tương ứng chính nghĩa, đồng cảm, từ bi. Đây là những đức tính quý giá nhất trong nước Pháp vào thời điểm đó.

Ba cánh hoa còn được cho là để tượng trưng cho đức tin, thông thái và tinh thần hiệp sĩ, và là dấu hiệu che chở của thiên thần ban tặng cho nước Pháp.

Suốt thế kỷ kế tiếp, thế kỷ 14, truyền thống về chủ nghĩa tượng trưng Ba Ngôi được thiết lập tại Pháp, và rồi truyền khắp các nơi khác. Dòng họ Bourbon lại thích hoa Lily trắng và sáng tạo ra Huân chương Lily trắng.

Ðặc biệt nhất là huy hiệu ”Hoa Lily” đã xuất hiện trên các cờ của vô số quốc gia châu Âu hàng nhiều thế kỷ. Biểu tượng huy hiệu Lily là hình tượng được sử dụng trong chính trị, phù hiệu quân sự và biểu tượng của nhiều tổ chức khác nhau, và suốt thế kỷ 20 Lily được nhiều tổ chức Hướng đạo khắp nơi trên thế giới chấp thuận làm huy hiệu của tổ chức mình, biểu hiện đề tài chính trong Hướng đạo: ngoài trời và hoang dã. Ba cánh hoa hay ba lá tượng trưng cho ba điều trong Lời hứa Hướng đạo: bổn phận đối với Thượng đế và Nhà vua (hoặc đối với Thượng đế và quốc gia mình), giúp đỡ mọi người và tuân theo Luật Hướng đạo.

Dựa theo một truyền thuyết kể về việc Vua Clovis (493) đặt một bông hoa vào trong chiếc nón sắt của mình ngay khi ông chiến thắng Trận Vouillé và đưa ông đến quyết định chọn hoa Lily làm một biểu tượng hoàng gia.

Từ mối liên hệ với Vua Clovis, hoa Lily đã được dùng để biểu trưng cho tất cả các vua Frank Cơ đốc giáo, vì thế có sự nghi ngờ khởi đầu vào thế kỷ 17 và các học giả hiện đại cho rằng hoa Lily là một biểu tượng tôn giáo trước khi nó trở thành một biểu tượng huy hiệu thật sự.

Chu kỳ của hoa Lily là biểu tượng của sự phục sinh – từ củ hành thiếu sức sống và xấu xí chôn trong lòng đất và sau đó tái sinh thành một bông hoa trắng khổng lồ và xinh đẹp. Màu trắng tượng trưng cho sự thuần khiết của Chúa Jesus và niềm vui của sự hồi sinh, còn hình dạng như một cây kèn trumpet tượng trưng cho cây kèn của thiên thần Gabriel kêu gọi sự tái sinh và phục sinh.

Các câu chuyện dân gian khẳng định rằng, nhiều loài thực vật nhận được bản sắc đặc biệt và các đặc tính vì sự liên quan của chúng với Chúa Jesus hay Đức Mẹ Đồng Trinh Maria.

Thời Trung cổ, các biểu tượng hoa huệ được thấy trong các hình tượng mô tả Giê-su, nhưng dần dần chúng trở thành biểu tượng của Đức mẹ Đồng trinh và có liên quan với Bài hát của Solomon “Lily among thorns” (lilium inter spinas), được hiểu như là nói đến Mẹ Mary.

Người ta cho rằng hoa Lily tượng trưng cho màu trắng tinh khiết của Đức Mẹ Đồng Trinh và hình dạng như được rắc vàng của hoa biểu tượng cho phẩm chất cao quý và giá trị của Đức Mẹ. Người ta thường đem hoa để cạnh ảnh Đức Mẹ Maria vì vậy loài hoa còn có tên hoa tượng thánh mẫu.

Hoa trắng này được dâng hiến cho Đức Mẹ Đồng Trinh và cắm trong nhà thờ suốt mùa lễ Phục Sinh để mừng sự hồi sinh của Chúa Jesus. Khi đặt hoa lên bàn thờ thường phải loại bỏ nhuỵ hoa, cơ quan sinh sản của thực vật để dâng lên thờ một biểu tượng thực sự tinh khiết.

Có truyền thuyết nói rằng ban đầu hoa Lily có màu vàng kem. “Một ngày, khi Mary đi đến đền thờ để cúng lễ, bà nghiêng người chọn một bông hoa. Nhưng khi bà chạm vào, bông hoa bỗng chuyển sang màu trắng tinh khiết. Joseph, người đi cùng với bà, cũng trông thấy phép lạ này và những người của ông bắt đầu chọn bó hoa lily trắng.

Hoa lily đỏ thường nghiêng đầu xuống dưới. Theo truyền thuyết, ban đầu hoa màu trắng. Khi Chúa Jesus đi qua khu vườn Gethsemane trên đường đi cầu nguyện, các bông hoa đều cúi đầu tôn kính. Lily biết rằng mình là bông hoa tuyệt đẹp, với hương thơm mạnh mẽ. Cô muốn được Chúa để ý tới khi ngài đi qua khu vườn. Trước sự ngạc nhiên và bối rối của cô, Chúa dừng lại và nhìn thẳng vào cô. Cô đột nhiên thấy xấu hổ về sự tự cao và kiêu ngạo của mình nên đỏ mặt đỏ và cúi đầu xuống. Kể từ ngày đó, đây là hình dáng mà hoa lily đỏ thể hiện.

Ngày nay Hoa Lily vẫn là một nhắc nhở đẹp trong mùa Phục Sinh và cũng là mối liên kết những hy vọng của từng nhịp tim nối lại nhau, bằng sự ấm áp vào dịp lễ hội, từ thế hệ này qua thế hệ sau trong tinh thần thánh thiện, thanh sạch, đầy lòng yêu mến, giữa con người và con người.

Người ta cũng tin rằng hoa này khi tự mọc trên những ngôi mộ của những người trong sạch, vô tội bị xử oan, hoa huệ được xem như là điềm chứng minh cho sự thanh khiết.

Hoa được cho là có chứa những tính chất huyền diệu và có hàng ngàn công thức chế biến của Nữ hoàng Elizabeth để sử dụng trong các loại kem điều trị sốt cao hoặc thuốc mỡ làm sạch vết thương, chữa bỏng và giảm triệu chứng thấp khớp và viêm khớp.

Nguyên thuỷ Lily được sinh ra trên hòn đảo phía nam của Nhật Bản. Đến năm 1.880, nó được trồng ở đảo Bermuda. Đến chiến tranh thế giới II, các nhà sản xuất Nhật Bản xuất khẩu hoa sang Hoa Kỳ. Sau cuộc tấn công ở Trân Châu Cảng, người Mỹ bắt đầu tự trồng hoa Lily riêng của mình tại Oregon.

Có lẽ tất cả điều này là một trong những lý do tại sao LiY và tất cả các loại hoa tương tự được coi như là biểu tượng của lòng dũng cảm và cao thượng. Khi bạn tặng hoa lily cho ai đó nghĩa là bạn nói với họ rằng bạn coi họ là một người cao thượng và dũng cảm, một người không trốn chạy khỏi trách nhiệm.

Mảnh khảnh bông thuỷ huệ
Trên hồ nở khoan thai
Trăng sầu tình không thuận
Nhìn hoa lòng nguôi ngoai

(Henrich Heine)

Водни лилии

Едно от най-красивите и ароматни цветя, които се срещат през пролетта е Лилията.

Много легенди и детски приказки разказват за миниатюрни духчета – елфи, които спят в цветовете на водната лилия през деня, а вечер разклащат стъблото й. От камбаноподобната й главица се понася нежна мелодия, която само духчетата могат да чуят и те танцуват цяла нощ на тази музика. На сутринта отново заспиват в камбанките на нежното водно цвете.

В славянски легенди водната лилия е свързана мистериозно с русалките. Скандинавските легенди казват, че всяка лилия има за приятел елф , заедно с него се ражда с него и умира. Според древногръцката митология, водна лилия е била бяла нимфа, но тя умира от любов заради останалия равнодушен към нея Херкулес и се е превърналала в красиво цвете.

Водни лилии-нимфи са наричани още “деца на слънцето”, защото красивите им цветове се отварят сутрин при изгрева и се затварят със залеза на слънцето.

Лилията шества в историята. В древна Персия тя е била част от герба. Египетските фараони също много тачели цветето. В центъра на своите палати те задължително имали малко езерце с лилии.

Растението е било на особена почит и през Средновековието.
А индийската царска династия на Могулите го издигнала в култ.
Цветето присъства и в хералдиката на Франция. Трите златни лилии върху кралското знаме означавали съответно справедливост, състрадание, милосърдие. Това били и най-ценените добродетели в страната по онова време. При царуването на Луи IX лилията става част и от герба. Оттам идва и прозвището крал на лилиите, а Франция – страна на лилиите. Бурбоните пък си харесват бялата лилия и създават Орден на бялата лилия.

Не са малко и легендите за това цвете. Най-разпространена е тази, описана в древногръцката митология. Гръмовержецът Зевс изневерил на съпругата си Хера с красивата Алкмена.
От любовта им се родил син – Херакъл. Ревнивата Хера решила да отмъсти за прегрешението и се наканила да погуби бебето.
Но щом го видяла, трогнала се и вместо да го убие, пожелала да го накърми. Малкият Херакъл обаче разпознал в нейно лице враг на своята майка и захапал гърдата й. Тогава Хера гневно го отблъснала, а от ухапаното място закапали мляко и кръв.
От млякото се образувал Млечният път на небето, а там, където капките кръв паднали на земята, поникнали лилии…

Името на Лилията идва от древен галски език и думите ли ли, което значи бял-бял. Все пак родината на лилията е отново Персия – тази люлка на цивилизацията. Столицата на Персия е била Суза, което в превод значи град на лилиите.

ЛИЛИУМ #4

Друго прекрасно пролетно цвете е лилиумът или Белият крем, което е вид родственик на лилията. За разлика от нея обаче, лилиумът се отглежда специално за букети и продажба, а издръжливостта и ароматът му, са станали известни на всички любители на цветята. От камбаноподобните му цветове се разнася упойващ аромат, който ще радва вас и вашата семейство, любим човек, на който сте подарили букет от бял крем, дни наред.

Лилиите/лилиумът като цяло заемат особено място в историята на Франция. Това е цветето на смелостта и подвига за французите.
Жана Д’Арк след смъртта си бива канонизирана за светица и наречена Жана Д’Арк дю Ли /Лилийна/, а нейният герб
представлява меч на син фон, с венец от лилии около него.

Вероятно това е една от причините, поради които Лилиума
и всички подобни от рода Лилия са символ на смелост и благородство.

В Рая, където змията изкушавала Ева, цъфтели лилиуми. Въпреки, че видели как тя се предала на изкушението, отхапвайки от ябълката, лилиумите запазили своята непорочна белота.

Люлката на Мойсей била вързана под жълти лилиуми, които растели между тръстики и камъши.
Персийската столица по времето на Кир, в края на V в. пр.н.е. била наричана “градът на лилиите”.

Възхищението от това цвете не само е родило легендите, а е оставило негови изображения върху асирийски и древноегипетски паметници. По-късно е намерило израз върху парични знаци. Лилия е била изобразена върху римски монети и френски флорини от времето на Людовик IX. А Людовик XIV пуснал в обращение пари във формата на златни и сребърни лилии.

Едни автори от Ботаническа градина-БАН  считат, че името на цветето произхожда от думата “ли-ли”, която означава “бял-бял”. Авторите не са единни дали “ли-ли” е древнокелтска, или древногалска дума.

Други автори приемат, че думата “лилиум” идва от гръцката дума “Leirion” – бял.

Цикълът на лилията е символ на възкресението – привидно безжизнена и грозна луковица е погребана в земята, а по-късно се преражда като огромно и красиво бяло цвете. Неговия бял цвят символизира чистотата на Христос и радостта на възкресението, докато с тромпетната си форма символизира тромпета на ангела Габриел и призива за възраждане и възкресение.

Фолклорните истории твърдят, че много растения са получили специална идентичност и характеристики поради тяхната връзка с Христос или Дева Мария. Приема се, че лилиума символизира с чисто белия си цвят Мадоната с нейната чистота, а вида му като на поръсен със злато представлява висшата ценност и стойност на Дева Мария.При поднасянето на лилиума пред олтара често се премахват тичинките и плодниците, репродуктивните органи на растението, за да се предостави наистина чист като символ.
Една легенда твърди, че кремовете са били първоначално жълти. “Един ден, докато Дева Мария ходеше в храма, за да се поклони, тя се наведе да избере един от цветовете. Но като го докосна, цветът се промени на чисто бял. Йосиф, който се разхождаше с нея, също видя това чудо, и хората му започнаха да берат букети от бели лилии”.

Изображение

Червената лилия често навежда главата надолу. Според легендата тя е била първоначално бяла. Когато Христос минал през Гетсиманската градина по пътя си да се моли, цветята се поклонили с благоговение. Лилията знаеше, че е изящно красива, с мощен аромат. Тя искаше да бъдат забелязана от Христос, когато мине през градината. За нейна изненада и срам, той се спря и се загледа директно в нея. Тя изведнъж се засрами от нейната гордост и самомнение, изчерви се до червено и наведе глава. От този ден, това е начина, по който червените лилия се представя.

С тези невероятни трансформации и чудеса, лилиума става синоним за предотвратяване на злото и противопоставяне на дявола, вярвания, особено разпространени и силни по време на Средновековието. Съществувало е общо убеждение, че само чрез вдишване на аромата на цветето, човек може да преодолее и отвърне на злите сили.

Според друга легенда, лилиумите са израснали от капките пот на Христос, които той хвърлил по време на агонията си на кръста.
И все пак ролята на лилиума в християнството не спира дотук. Казва се, че когато Адам и Ева са изгонени от Едемската градина, Ева се покаяла и заплакала. От тези сълзи израснали лилиуми.
Легендите разказват, че когато гробницата на Дева Мария е била посетена три години след смърта й тя била празна, с изключение на магическите бели лилиуми.

За гърци и римляни, лилиума е цвете на любовта. Те го използвали по време на церемонии за поклонение на Венера и Афродита.
Когато падащите звезди докоснат земната повърхност, се превръщат в цветя и тези цветя са лилиумите. Тази легенда дала друго име на лилиума “Звезда на земята”.

Древните гърци и римляни поставяли Л. candidum в украсата на булките като символ на плодородието. Египтяните смятали лилиума като символ на живота, а римляните го виждали като символ на надеждата. Археолозите открили в гробници на фараоните украси с бели лилиуми . Най-ранният известен запис, обаче, е бил открит в началото на 20 век по време на разкопки на двореца на цар Минос в Кносос на остров Крит. Открит е стенопис на candidum Л. о като се счита, че е направен около 3000 г. пр. Хр. Чертежи на кремовете са били открити на гръцки вази около 1750-1600 г. пр. Хр.

Не случайно лилиумът е изобразяван на много гербове и монети. Според легендата кралят на франките Хлодвиг I получил бял лилиум от ангел, който му казал, че трябва да завещае цветето на своите потомци. Оттогава белият лилиум е символ на кралската власт във Франция.

Легенда разказва, че когато Венера е излязла от морето и пяната, видяла лилиума и се изпълнила с ревност и завист от белотата и красотата на цветето. Виждайки я като конкурент на собствената си красота тя направила така че, огромен плодник да извира от снежнобелия център на Лилиума. Оттогава цветето се свързва с Венера и сатирите, които са олицетворение на страстен плам.
Смятало се е, че има магически свойства и има хиляди рецепти от кралица Елизабет за използване в кремове за лечение на висока температура или като мехлем, съдържащ корен за почистване на рани, изгаряния и рани , както и облекчаване на ревматични и артритни симптоми.

Оригиналът Lilium longiflorum е роден на южните острови на Япония. До 1880 години, той е се отглежда в Бермудските острови. До Втората световна война, японските производители изнасят луковици в САЩ. След атаката над Пърл Харбър, американците започват отглеждане на собствени луковици в Орегон.

Вероятно всичко това е една от причините, поради които Лилиума и всички подобни са символ на смелост и благородство. Подарявайки лилиум , вие казвате на човека, че го смятате за благородна и смела личност, човек, който не бяга от отговорност.

sibir.bg

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Free counters!

%d bloggers like this: