Nguyễn Du – Tiếng thơ ai động đất trời


Ngày 25/10/2013, Đại Hội đồng UNESCO đã thông qua Nghị quyết nhất trí biểu quyết vinh danh 108 Danh nhân văn hóa thế giới trong đó có Đại thi hào Nguyễn Du. Nghị quyết 37C/15 đã thông qua nội dung quan trọng đó là UNESCO sẽ tham gia vào việc tổ chức các lễ kỷ niệm 108 Danh nhân văn hóa thế giới trong năm 2014-2015. Theo đó, Lễ kỷ niệm 250 năm ngày sinh Đại thi hào Nguyễn Du (1765 – 2015) của Việt Nam sẽ được tổ chức trong năm 2015.

Tại lê kỷ niệm, bà Katherine Muller Marin – Trưởng đại diện Văn phòng UNESCO tại Việt Nam đánh giá: Tầm vóc của Nguyễn Du không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn ở cả nhân loại. Ở tác phẩm Nguyễn Du đã có mối liên hệ chặt chẽ với các lĩnh vực trọng tâm của UNESCO như: liên quan đến khát vọng hòa bình, chủ nghĩa nhân văn, giá trị gia đình, truyền thống văn hóa… Các tác phẩm của Nguyễn Du chứa đựng tình cảm, lương tri và tình yêu của toàn thể nhân dân Việt Nam, khiến cho ông không chỉ là một kho báu văn hóa dân tộc mà còn được biết đến như người soi sáng nhân loại tới nền hòa bình, tình yêu và lòng khoan dung. Thế giới luôn luôn thay đổi, các tác phẩm bất hủ của Nguyễn Du cần được gìn giữ và chia sẻ thông qua nỗ lực không ngừng và quảng bá làm cho các thế hệ được biết đến và học tập từ ông.

Nằm trong Lễ kỷ niệm là Chương trình nghệ thuật đặc sắc mang tên “Tiếng thơ ai động đất trời” do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Tĩnh chỉ đạo nội dung và thực hiện, được tập thể diễn viên, nghệ sỹ Nhà hát nghệ thuật đương đại Việt Nam biểu diễn.

Tiếng thơ ai động đất trời
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu.
Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du
Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày.
Hỡi người xưa của ta nay
Khúc vui xin lại so dây cùng người.

(Thơ Tố Hữu)

Nguyễn Du sinh năm 1765 trong một gia đình giàu truyền thống khoa bảng tại kinh thành Thăng Long, cha là Nguyễn Nghiễm, quê ở làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Sống trong thời kỳ đầy biến động của lịch sử Việt Nam cuối thời Hậu Lê đầu thời Nguyễn thế kỷ XVIII, XIX, ông là nhân chứng của những thăng trầm, rối ren của đất nước. Với tài năng thiên bẩm, Nguyễn Du đã để lại cho hậu thế một di sản văn học vô cùng quý giá. Các tác phẩm của ông đã phác họa, chiêm nghiệm sâu sắc về đời sống xã hội đương thời, xót thương cho những thân phận khổ đau, lên án bất công xã hội, ước mơ giải phóng con người.

250 години от рождението на Нгуен Зу (1765-1820), поет (Виетнам)

Нгуен Зу (1765-1820 ) е виетнамски поет с много интересен живот. Във Виетнам и изключително известен и дори неграмотни селяни могат да цитират части от поемите му наизуст.

Нгуен Зу е велик виетнамски поет. Роден като седмо дете в чиновническо семейство със стари литературни традиции в Северен Виетнам. Баща му е бивш министър при династията Ле. До 13-годишна възраст загубва и двамата си родители. На 19-годишна възраст след полагане на изпити получава титла, развнозначна на „завършил гимназия”. Започва кариера на военачалник – назначен е за военен съветник (1783 – 1789) в армията на последните владетели Ле, когато феодалната държава преживява тежка криза, а многобройните селски вълнения преминават в голямото въстание на Тайшоните (1771 – 1802). Поетът отначало участва в съпротивата срещу въстаниците, но е разбит от тях, отказва да служи в администрацията на тайшоните, опитва се тайно да напусне двора и да избяга при княз Нгуен Ан, установил се на юг (бъдещия основател на династия Нгуен (1802-1945) – последна императорска династия на Виетнам), но е заловен и хвърлен в тъмницата. Освободен, живее като частно лице в родното си село. След възцаряването на династия Нгуен, след настойчивата им покана, отново служи от 1802 г.: военен съветник, посланик в Китай (1813), заместник-министър на церемониала. Умира в тогавашната столица Хюе. Литературното му творчество е много богато и се опира на фолклора и съвремието – „Стихотворен сборник от Таниен”, „Сборник стихове от Юга и Центъра”, „Записки за пътешествие на Север”, „Възвание към неразкаяните души” и др., както и знаменитата му епична „Поема за Киеу” („Стенания на изтерзаната душа”, „Приказка за Киеу” или просто „Киеу”) – широка панорама на феодалното общество от късното управление на владетелите Ле и ранното – на династия Нгуен; творбата му – трагична история за двама влюбени, е шедьовър на виетнамското поетично творчество. Поемата е толкова популярна във Виетнам, че дори неграмотните селяни я знаят наизуст. В поетичното произведение „Всичко живо” преосмисля, на основата на будизма, драматизма на епохата. Сборникът „Различни записки за пътешествие на Север” (1813-1814) разкрива патриотичните виждания на поета. Освен поезия на виетнамски, пише няколко стихотворения на китайски. В повечето градове на Виетнам главните улици са кръстени на негово име.

Một số bài thơ của Nguyễn Du đã được dịch sang tiếng Bun:

THĂNG LONG I

Tản lĩnh Lô giang tuế tuế đồng,
Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long.
Thiên niên cự thất thành quan đạo,
Nhất phiến tân thành một cố cung.
Tương thức mỹ nhân khan bão tử,
Ðồng du hiệp thiếu tẫn thành ông.
Quan tâm nhất dạ khổ vô thuỵ,
Ðoản địch thanh thanh minh nguyệt trung.

Dịch nghĩa

Núi Tản sông Lô qua bao nãm trời đều vẫn vậy.
Bạc đầu nay lại thấy được Thăng Long.
Những tòa nhà cũ nghìn xưa, nay đã trở thành đường đi,
Một dải thành mới thay dấu cung điện cũ.
Những người đẹp biết ngày xưa nay đều đèo bồng con trẻ,
Bạn hào hiệp lúc trẻ cũng đều già cả.
Suốt đêm khổ tâm nghĩ ngợi không ngủ được,
Tiếng sáo nghe văng vẳng trong ánh trăng.

Chú thích

(1) Thăng Long: Từ đời Lý, kinh đô Việt Nam đóng tại Thăng Long. Thăng Long nghĩa đen là rồng hiện lên. Đến đời Nguyễn, Gia Long đóng đô tại Huế, và đổi chữ Thăng Long là rồng hiện thành chữ Thăng Long là thịnh vượng. Nhưng trong vãn thơ, cổ nhân vẫn viết chữ theo tên cũ Thăng Long là rồng hiện.

***

ДНЕС НОВ ГРАД ОГРЯВА ОТ СИНИЯ СВОД…

Нгуен Зу

превод: Григор Ленков

Днес нов град огрява от синия свод
предишната жълта луна.

Столица древна на древна държава
Тханг Лонг* досега остава.

Улица нова в квартала стар –
как ли сега го позна?

Песен на флейта звънне и секне –
нов напев в нея отекна.

Сто века ламтеж за богатство, за власт,
сто века война след война.

Приятели имах… Колко са днес?
Страшна е тая цена!

Водовъртеж е светът… Ще открием
покой само в стона си ние.

Виж си косите: посипа по тях
времето свойта слана.

—————————–

* Тханг Лонг – Градът на Летящия Дракон, т. е. Ханой, бел. прев.

GHI LẠI GIẤC MỘNG

Ngày đêm nước chảy rề rề
Người đi xa mãi ngày về biết đâu
Bao nãm chưa gặp lại nhau
Lấy gì an ủi nỗi sầu nhớ thương
Mộng nay thấy được người mong
Gặp ta ngay ở ven sông bến bờ
Mặt trông vẫn vẻ như xưa
Nhưng xiêm luộm thuộm bao giờ thấy đâu
Trước thì kể chuyện ốm đau
Sau thì than thở nỗi sầu cách xa
Nghẹn ngào lời nói chẳng ra
Tuồng như màn trướng chia lìa hai phương
Bình thường ta chẳng rành đường
Trong cơn mộng mị không lường thực hư
Núi Tam Điệp hổ báo dư
Nước sông Lam có kình ngư vẫy vùng
Đường đi hiểm trở vô cùng
Một thân yếu đuối biết nương nơi nào?
Mộng đến bên ngọn đèn hao
Mộng đi gió lạnh lao xao thổi cùng
Giai nhân chẳng được tương phùng
Tấm lòng rối loạn lùng bùng ngẩn ngơ
Ánh trăng nhà trống thẩn thơ
Chiếu trên manh áo đơn sơ thân buồn.

Chú thích:

Bài thơ này, Nguyễn Du nói về người vợ đã mất, em gái của Đoàn Nguyễn Tuấn. Nay nhà thơ về quê nhà ở Hà Tĩnh, nằm mộng thấy vợ vào tìm mình ở Lâm giang.

(1) Cách duy: cách bức màn. Vợ Hán Đế Vũ là Lý phu nhân, có sắc đẹp và múa giỏi, nhưng chết sớm. Vũ Đế rất thương tiếc. Có người phương sĩ nói có thể chiêu hồn Lý phu nhân về. Vua bằng lòng. Ban đêm, người ấy bèn giương màn, đốt nến, để vua ngồi trong màn, nhìn sang một bức màn khác, thấy bóng một người đàn bà giống Lý phu nhân.

(2) Nhược chất: tư chất yếu đuối, chỉ phụ nữ.

(3) Nhu tình: mối tình vấn vương.
***

МОМЪК ОТ РАБОТИЛНИЦА ЗА ОСТРОВЪРХИ ШАПКИ ОТГОВАРЯ НА СТИХОВЕ

О, как ми е жал за жениха от Цин,
за момата от Цзин!
Не бях я прегърнал и в ранни зори
останах един.

Не бяхме си казали нищо почти
и рекох унил:
„Да беше издъхнал петелът проклет,
деня възвестил!”

Отново си спомням Зорницата днес,
обзема ме бяс,
о, с яростна брадва небето на две
разсякъл бих аз!…

Там, дето се срещнахме, пак съм дошъл,
къде ли е тя?
Над старата пейка звънлив чичопей
цвърти в утринта.

Пак мократа слама на тхема дими
и пушек струи,
на пода лежи сдъвкан бетелов лист…
Къде ли си ти?

По-дълбока от бистрото синьо Дон-Хай
е мойта любов!
По-голяма от стръмния връх на Хон-Лин
е твойта любов!

Аз знам – десет хиляди пречки стоят
сега между нас!
Прекрасен бе нощният хлад и жесток
е знойният час!

Любима! Сега си далече оттук!
При мене ела!
Колата се скри, но в ушите ми пак
скриптят колела.

Проблясва под ранното слънце дъждът,
по-чист от кристал.
За плащ сбирам палмови мокри листа,
скърбя онемял.

Проклетите шапки дано изгорят
и станат на прах,
и тия бамбукови тънки стебла,
и куките с тях! –

Изгрява луната, разлива над мен
златисти лъчи.
Пътека ме мами сред гъстия лес…
О, памет, мълчи!

Скърбя и въздишам на свойто легло
в нощта без предел.
А нишка оплела е мойто сърце –
кой би я разплел!

В град Вин на пазара очаквам в зори
любимата сам:
след три… може би след тринадесет дни
ще мине оттам.

Но всяка надежда за среща изтля
отдавна у мен.
А бетелът, който на подноса бе,
увехна зелен.

Помислихте вие, че мойте слова
са само шега…
Но тя е горчива от мойте сълзи,
от мойта тъга!

В небето рой облаци пак се кълбят
за дъжд – погледни!
Луната блести – обещава ми тя:
„След тридесет дни!”

Луна! Като хладна девойка към мен
бездушна си пак.
И смея се тъжно над себе си аз
във нощния мрак.

Нгуен Зу

превод от виетнамски: Григор Ленков и Любен Любенов

Đạo ý

Minh nguyệt chiếu cổ tỉnh,
Tỉnh thuỷ vô ba đào.
Bất bị nhân khiên xả,
Thử tâm chung bất dao.
Túng bị nhân khiên xã,
Nhất dao hoàn phục chỉ.
Trạm trạm nhất phiến tâm,
Minh nguyệt cổ tỉnh thuỷ.

Dịch nghĩa

Trăng sáng chiếu giếng xưa,
Nước giếng không nổi sóng.
Không bị người khuấy lên,
Lòng này không xao động.
Dù bị khuấy lên,
Dao động một lúc lại lặng ngay.
Tấm lòng trong vằng vặc,
Như ánh trăng sáng chiếu giếng nước năm xưa.

***

В кладенеца стар – пълнолика луна,
не трепва нито вълна.

Висне ведро и под него блести
сребърна глъбина.

Но ако някой спусне ведрото –
трепва за миг среброто.

И мойто сърце е кладенец стар
със пълнолика луна.

***

В СЕЛОТО НА ФАВОРИТКАТА ЯНГ

Облаци бели, цветя, върхове –
старото село на Янг.

Бяха те само коне за парад,
строени пред своя тиран.

Хиляда години за нея е в сила:
„Империята разрушила!”

Подстригваха все тъй тревата на Юг,
в двореца от слънце огрян.

А бяха на Запад хълм подир хълм
срязани като с длан.

Где са воланите, роклите где са?
Вятърът всичко отнесе.

Плаче над крепостните стени
вятърът необуздан.

—————————–

** Янг Куе Фе – фаворитка на император Суан Тонг от династия Танг, 7 в., по това време въстанал Ан Лу Сан, който завзел столицата и заточил двора. Императорът бил известен със своя култ към фаворитката, която била убита от разбунтувалите се войски, обвинявайки я в упадъка на империята.

Dương phi cố lý – Quê cũ Dương Quý Phi

Mây rừng hoa bến cảnh xinh xinh,
Nghe nói Dương Phi đất ấy sinh.
Trách kẻ đầy triều đồ đứng phỗng,
Oan ai nghìn thuở tội nghiêng thành.
Cỏ cây Nam Nội đà man mác,
Gò đống Tây Giao cũng vắng tanh.
Tìm mảnh hoa tàn đâu thấy nữa,
Dưới thành gió thoảng xiết bao tình.

QUÊ CŨ DƯƠNG QUÍ PHI

Núi mây thưa thớt hoa rực rỡ bên bờ,
Thuyết rằng đây là quê sinh đẻ của Dương Phi
Chỉ tại triều đình như tuồng phỗng đá,
Khiến xui ngàn nãm cứ đổ tội sắc nghiêng thành.
Trong cung Nam buồn cỏ bồng mọc khắp lối,
Vắng vẻ Tây giao, gò đống phẳng bằng.
Phấn lạt hương phai biết tìm đâu,
Gió đông thành dưới gợi nhiều cảm thương (*).

***

Bài thơ Dương Phi cố lý của Nguyễn Du.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Free counters!

%d bloggers like this: