Bài thơ Dương Phi cố lý của Nguyễn Du


Dương phi cố lý – Quê cũ Dương Quý Phi

Sơn vân tước lược ngạn hoa minh,

Kiến thuyết Dương Phi thử địa sinh.

Tự thị cử triều không lập trượng,

Uổng giao thiên cổ tội khuynh thành.

Tiêu tiêu Nam Nội bồng cao biến,

Mịch mịch Tây Giao khâu lũng bình

Lang tạ tàn hồng vô mịch xứ,

Đông phong thành hạ bất thăng tình.

Cụ Bùi Kỷ và hai ông Phan Võ, Nguyễn Khắc Hanh dịch là:

Mây rừng hoa bến cảnh xinh xinh,

Nghe nói Dương Phi đất ấy sinh.

Trách kẻ đầy triều đồ đứng phỗng,

Oan ai nghìn thuở tội nghiêng thành.

Cỏ cây Nam Nội đà man mác,

Gò đống Tây Giao cũng vắng tanh.

Tìm mảnh hoa tàn đâu thấy nữa,

Dưới thành gió thoảng xiết bao tình.

Dịch ra văn xuôi là:

Mây núi lơ thơ, bờ sông hoa tươi sáng

Đây là nơi người ta nói rằng Dương Phi đã sinh.

Từ đó cả triều đình đứng im như ngựa gỗ

Nghìn đời đổ oan (cho nàng) cái tội nghiêng thành

Cung Nam Nội cỏ cây man mác mọc

Gò Tây Giao tịch mịch đã thành đất bằng

Tìm đâu cho thấy những cánh hồng tan tác

Dưới thành gió đông thổi chứa chan tình).

QUÊ CŨ DƯƠNG QUÍ PHI

Núi mây thưa thớt hoa rực rỡ bên bờ,
Thuyết rằng đây là quê sinh đẻ của Dương Phi
Chỉ tại triều đình như tuồng phỗng đá,
Khiến xui ngàn nãm cứ đổ tội sắc nghiêng thành.
Trong cung Nam buồn cỏ bồng mọc khắp lối,
Vắng vẻ Tây giao, gò đống phẳng bằng.
Phấn lạt hương phai biết tìm đâu,
Gió đông thành dưới gợi nhiều cảm thương (*).

Dịch sang tiếng Bulgari

превод: Григор Ленков

В СЕЛОТО НА ФАВОРИТКАТА ЯНГ

Облаци бели, цветя, върхове –
старото село на Янг.

Бяха те само коне за парад,
строени пред своя тиран.

Хиляда години за нея е в сила:
„Империята разрушила!”

Подстригваха все тъй тревата на Юг,
в двореца от слънце огрян.

А бяха на Запад хълм подир хълм
срязани като с длан.

Где са воланите, роклите где са?
Вятърът всичко отнесе.

Плаче над крепостните стени
вятърът необузда

Нгуен Зу

** Янг Куе Фе – фаворитка на император Суан Тонг от династия Танг, 7 в., по това време въстанал Ан Лу Сан, който завзел столицата и заточил двора. Императорът бил известен със своя култ към фаворитката, която била убита от разбунтувалите се войски, обвинявайки я в упадъка на империята.

Dương Quý Phi là ái phi của Hoàng đế Đường Huyền Tông, đời Đường thế kỷ 7. Năm 755, An Lộc Sơn khởi loạn, chiếm kinh đô Trường An, thề quyết chiếm cho được Dương Quý Phi, nhưng Đường Minh Hoàng đã đem nàng chạy sang đất Thục. Đến Mã Ngôi, ba quân nổi giận, không chịu đi tiếp, bàn nhau giết anh trai của Dương Quý Phi và ép vua giết Dương Phi vì cho rằng anh em nàng chính là nguyên nhân của mối loạn này. Vua nghe nói rụng rời chân tay, năn nỉ ba quân tha cho Dương Quý Phi. Quân sĩ tung hô vạn tuế nhưng vẫn cứ đứng im, không chịu đi tiếp. Các quan đại thần hết sức khuyên nhà vua nên dẹp bỏ tình riêng để chiều lòng ba quân, bằng không giặc đuổi đến nơi thì khó  toàn mạng. Vua đành chịu, chỉ đứng yên mà khóc nhìn quân lính thắt cổ Dương Quý Phi trên cây liễu trước sân chùa. Bấy giờ nàng mới 37 tuổi.

Câu đầu là tả nơi sinh của Dương Phi. Cảnh nhẹ nhàng thơ mộng nhưng tiêu điều vắng lặng, buồn mang mang. Làng không tên, sông núi cũng thầm lặng. Câu thứ hai giới thiệu đất ấy cũng mơ hồ, phảng phất, vì chỉ là một lời truyền tụng “nghe nói” (kiến thuyết).

Câu 3 và câu 4 là nói về lịch sử thời ấy, với nhận xét của nhà thơ, “trách” (không có trong nguyên văn, nhưng có trong ý thơ) và “oan” (uổng).

Câu 5 và câu 6 nói hai cảnh vật lịch sử trong truyện đời Dương Phi, nay đã biến đổi. Nam Nội là nơi Đường Minh Hoàng xưa cho xây cung Hưng Khánh để ra đó thưởng ngoạn với Dương Phi; một nơi hoa lệ của hoàng đế có vườn hoa, sông hồ và đài ngắm trăng với cung điện huy hoàng, mà các đạo sĩ dựng lên để tạo ra một Quảng Hàn cung dưới trần, nay chỉ có cây cối um tùm và cỏ bồng mọc hoang che kín mít khắp nơi (Tiêu tiêu Nam Nội bồng cao biến). Còn cánh đồng Mã Ngôi ở ngoài cửa Tây (Tây Giao) của kinh đô (Tràng An), dưới sự reo hò của binh lính và sự đồng tình của cả triều đình, Dương Phi phải nhận tấm lụa từ tay vua để làm con dê tế thần cho mọi người đều nhẹ lương tâm, nay cũng đã san bằng các gò đống, không còn một vết tích (Mịch mịch Tây Giao khâu lũng bình). Cả hai nơi này đều ở ngoại thành Tràng An, xa xôi với tỉnh Thiểm Tây có làng Hoàng Nông, trong huyện Hòa Âm là nơi sinh của Dương Ngọc Hoàn, tức Dương Quý Phi.

Hai câu cuối (7, 8) kết thúc bài thơ và nói sự cảm khái thương tiếc của thi sĩ cho một cuộc đời nhan sắc mà bạc mệnh (tàn hồng: “mảnh hoa tàn”).

Các học giả đã thấy bài thơ này trong những tàn dư của ba tập thơ của Nguyễn Du đều không nghi ngờ gì rằng đây đúng là bút tích của thi sĩ. Ông Đào Duy Anh còn chú thích rằng “bài này xét hình thức và nội dung cũng có vẻ hợp với phong cách thơ Nguyễn Du”. Nhưng cũng như các ông Bùi Kỷ, Lê Thước, ông xếp bài thơ vào tập thơ làm trên đường đi sứ sang Bắc Kinh và chua giải rằng trên đường lúc đi cũng như lúc về, Nguyễn Du cùng sứ đoàn không đi qua Thiểm Tây và không thể nào đã đến làng cũ của Dương Quý Phi. Ông để bài thơ sinh rơi này vào cuối cuốn Bắc hành tạp lục, và cho nó số 130 trong tập thơ 130 bài.

Hai ông Nguyễn Thạch Giang và Trương Chính, trái lại, xếp bài thơ vào số 46 của Bắc hành tạp lục và như thế, có lẽ đã đoán rằng Nguyễn Du, khi đi gần vùng Thiểm Tây nhớ đến Dương Phi, đã viết bài thơ này để tưởng niệm một người đẹp thuở xưa. Nhưng bài thứ 46, đứng sau bài vịnh Triệu Vũ đế (mộ để ở một nơi bí mật tại Quảng Tây hay Quảng Đông, đến nay vẫn chưa biết rõ là ở đâu), còn xa hữu ngạn của Hoàng Hà là nơi sinh của Dương Ngọc Hoàn nhiều lắm.

Nói tóm lại, cho đến nay, chưa ai biết Nguyễn Du đã vì cớ gì viết thơ về Dương Quý Phi và viết bài thơ ấy vào lúc nào. Nguyễn Du bị mang tiếng là thích gái đẹp, một phần cũng vì bài thơ này. Người ta chỉ nhìn thấy rằng Nguyễn Du đã bào chữa cho Dương Quý Phi (Uổng giao thiên cổ tội khuynh thành = Oan ai nghìn thuở tội khuynh thành) mà Dương Quý Phi thường được coi là người đẹp điển hình, cao quý nhất trong lịch sử Trung Quốc và có nhiều văn thơ ca tụng nhất (Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị). Trong văn chương Việt Nam, ngay cả đến Nguyễn Trãi cũng nói đến. Tây Thi, Chiêu Quân, Điêu Thuyền là những người đẹp đứng sau.

Hồi mâu nhất tiếu bách mị sinh

Lục cung phấn đại vô nhan sắc

(Bạch Cư Dị, Trường hận ca)

(Nàng đưa mắt mỉm cười, trăm vẻ đẹp hiện ra,

Các phi tần trong sáu cung đều thành không nhan sắc)

Cười duyên mắt phượng liếc đưa

Cung phi sáu viện thảy thua diễm kiều.

(Chi Điền Hoàng Duy Từ, Đường thi IV)

Bài thơ không nói về cố lý (làng cũ, tức nơi sinh thành) của Dương Ngọc Hoàn, mà trong Quốc âm thi, Nguyễn Trãi gọi là Thái Chân. Toàn bài nói về cuộc đời của Quý Phi và thời thế trong đó Quý Phi đã sống, đã được yêu, được tôn sùng và đã chết oan uổng một cách thương tâm. Tất cả phong cảnh của một cuộc đời đã được thu lại trong ba câu. Cảnh xưa – ngôi làng, cung Hưng Khánh và cánh đồng Mã Ngôi – đều không được gọi tên và chỉ được gọi lên trong ý, nhưng phàm là người có học (cổ học Trung Hoa) đều biết và đều tưởng ra được sự huy hoàng rực rỡ. Nguyễn Du không nói đến tên làng ngày nay (thời Nguyễn Du), vì qua mấy thế kỷ với sự thăng trầm của các triều đại, làng có thể đã đổi tên; theo truyền thống Á Đông cho đến thời nay (thời chúng ta), triều đại đến sau bao giờ cũng lo xóa bỏ những di tích của triều đại trước, nhất là những tên làng, tên đường, tên tỉnh, như sợ rằng người ta còn nhớ nhung về một thời đã mất. Địa danh sông núi không thay đổi được, nên Nam Nội (bãi đất nội thành ở phía nam) và Tây Giao (cánh đồng ở phía tây ngoại thành) vẫn còn tên, nhưng phong cảnh, cùng với cảnh làng cũ, chỉ còn là những hoang tàn. Nguyễn Du không đến những nơi này, nhưng đối với thi sĩ, khi cung điện xưa đã bị phá đi, các gò đống đời trước đã bị mất, thì tất cả thành tịch mịch, tiêu điều, trống rỗng. Dầu ngày nay có nhà chọc trời được xây lên và phố xá sầm uất, nhưng lịch sử đã thành hoang phế.

Tìm mảnh hoa tàn đâu thấy nữa

Dưới thành gió thoảng xiết bao tình.

Nguyễn Du không đặt chân đến làng cũ của Dương Phi, cũng không được đến Nam Nội và Tây Giao; thế thì vì lẽ gì thi sĩ đã viết bài thơ này?

Nguyễn Du không làm thơ nếu tình cảm không dạt dào, tư tưởng không bừng lên, tứ thơ không nổi dậy. Ông không phải là một thợ thơ như Victor Hugo(20), một nghệ sĩ có tài và có khả năng mỗi ngày ngồi vào bàn, viết mấy chục hay mấy trăm câu thơ. Người ta cũng không có bằng chứng rằng ông gò, ông giũa từng câu thơ như Stéphane Mallarmé hay như người đúc ngọc, tính toán từng một phần trăm của độ hoặc ly để cho những phản quang của ánh sáng chiếu được các màu bích của mảnh đá quý thành trong suốt. Những thơ trong Bắc hành thi tập là thơ đề ở dọc đường, trên một cái cột đá, ở thành một con thuyền, hay trong một cái xe ngựa “vó câu khấp khểnh, bánh xe gập ghềnh”. Nếu không có tình, có tưởng, có tư thì tứ không đến, từ không trào ra thành thơ.

Đọc lại bài thơ thấy tình chan chứa ở hai câu cuối:

Tìm mảnh hoa tàn đâu thấy nữa

Dưới thành gió thoảng xiết bao tình.

Trọng tâm của bài thơ Dương Phi cố lý không ở trong tình, chưa ở trong tình, mà ở trong tư, như được nói trong hai câu 3, 4:

Tự thị cử triều không lập trượng,

Uổng giao thiên cổ tội khuynh thành.

(Trách kẻ đầy triều đồ phỗng đứng

Oan ai nghìn thuở tội khuynh thành)

[Đổi “đứng phỗng” thành “phỗng đứng”]

Đây là hai lời cực kỳ mạnh mẽ của thi sĩ. Câu trên là câu buộc tội: “Cả triều đình đã thành những con ngựa cảnh đứng sững lúc duyệt binh (lập trượng mã), chỉ co vó lên đạp đất một cái hay hí lên một tiếng là đủ để bị biếm ra khỏi chức vụ dàn cảnh, bày hàng. Câu sau là câu cởi trói: “Từ đó nàng đã phải mãi mãi chịu cái tội oan (uổng giao) là quá đẹp làm cho nghiêng nước”.

Sức mạnh của lời thơ đã tăng lên đến cực độ, vì trong tư của thi sĩ cũng có tưởng: thi sĩ đã thấy cả lũ quan lớn trong triều sắp hàng nghiêm chỉnh như bầy ngựa cảnh, trồng răm rắp như gỗ đá và câm như hến “Tự thị” là từ đó cho đến vĩnh cửu về sau. Câu thơ nặng trĩu với bốn thanh nặng (.) đóng khung và ba vần trắc cuối. Câu sau gieo “thiên cổ”, kéo dài thêm cái thời gian ô nhục cho đến vô tận. Và những chữ này áp dụng cho “cử triều” – tất cả cái triều đình. Sự phán xét của lịch sử, trong hai câu thơ, đã bị lật lại, một câu đầy khinh bỉ, phẫn nộ, chình chịch; một câu, ghép chữ “tội” vào với chữ “khuynh thành”, để nhạo sự phi lý khôi hài, của một lời phán nhẹ bỗng, vô căn cứ.

Nhưng tình, hình như chưa phải là chốt của bài thơ. mới là điều chính yếu, khi Nguyễn Du đặt bút xuống viết bài thơ. Minh oan cho Dương Phi là để quy tất cả tội vào cái triều đình phỗng đứng. Và lời kết tội cái triều đình bị thịt của Đường Minh Hoàng vang dội lên, như sấm rền, nổi bật lên, như chớp giật, đanh thép, sắc bén, mỉa mai, khinh bỉ, trước lời cởi cái dây oan trên cổ Dương Phi.

TRẦN NGỌC NINH

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Free counters!

%d bloggers like this: