Lao động hè


ĐỜI SINH VIÊN, MỘT THỜI ĐỂ NHỚ – NHỮNG CÂU CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI ĐƯỢC PHÉP KỂ LẠI.

Gửi tặng những ai đã sống ở các nước XHCN Đông Âu trong những năm 60 và đầu những năm 70 của thế kỷ trước, đặc biệt là những LHS Bungari khóa 69-75.

Vương Khả Cúc

I. Lao động hè.

1/ Những ai đã từng học ở các nước Đông Âu những năm sáu mươi và đầu những năm bảy mươi của thế kỷ trước hẳn còn nhớ “Bộ quy chế” rất ngặt nghèo cho lưu học sinh nếu không nói là quá nghiêm khắc, mang sắc thái kỷ luật quân sự và thật buồn cười: ra đường phải đi ít nhất hai người cùng giới, tuyệt đối không được yêu, trước chín giờ tối phải có mặt tại phòng ở.v.v…và v.v…Nếu không may cho một ai đó “xé rào”, vi phạm một trong những “điều khoản” này thì bao nhiêu sự phiền toái sẽ đến và không loại trừ “xách va ly về nước”trước thời hạn. Mục đích của Quy chế là mỗi một sinh viên phải tập trung toàn tâm toàn lực cho việc học tập, ai cũng biết thế, nhưng có những điều phi thực tế mà không ai được phép “ góp ý”. Chúng tôi chỉ có một nhiệm vụ duy nhất là thực hiện.

Sau mỗi một năm học kết thúc là những ngày hè dài dằng dặc kéo dài suốt hai, ba tháng liền. Ai thích thể thao thì rủ nhau chơi bóng chuyền, bóng đá, cầu lông…, tối đến tụm năm, tụm ba cờ tướng, cờ tây, khuya về thì dậy mùi mì ống, cá hộp. Chơi lắm cũng chán. Chỉ có một điều trong Quy chế lưu học sinh “rất văn hóa” mà ai cũng cảm thấy “dễ thở” là: hè đến có thể đi nghỉ mát, lên rừng, xuống biển (tất nhiên là ít nhất 2 người cùng giới) hoặc đến nhà bạn thân chơi ở một thành phố khác với sự khai báo với đơn vị chủ quản đầy đủ. Thích nhưng có mấy ai thực hiện được đâu vì không có tiền – học bổng sinh viên ít quá. Đến nhà người ta làm khách thì “ông có chân giò, bà thò chai rượu” chứ, mặt mũi nào mà “vác miệng” đến “làm khách” mấy ngày liền được. Nhưng tôi lại rất khoái điều khoản này, vì có thể “lách luật” được để thực hiện ý đồ khác của mình mà không ai có thể biết được việc tôi làm.

Hồi đó, ở Bungari mỗi tháng chúng tôi được lĩnh 83 lê-va học bổng. Nếu ai chăm chỉ “đi cày” nhà ăn sinh viên cũng đã hết gần một nửa số tiền, rồi quần áo, sách vở…trăm thứ đều bấu víu vào đó. Cô cậu nào hoang hoang một tý thì cuối tháng lại phải đi xin “viện trợ” bạn bè.

Kết thúc năm học tiếng 1969 -1970 tôi được phân về trường Đại học tổng hợp quốc gia Xô-phia, học môn hóa học. Sinh viên Việt Nam học ở trường này thuộc loại đông nhất so với các trường khác nên hè về cuộc sống không đến nỗi nhàm chán. Nhưng tôi vẩn cảm thấy một sự lãng phí thời gian vô ích. Nếu ai đó cho tôi được tự do, không bị ràng buộc vào Quy chế thì có lẽ chẳng có hạnh phúc nào bằng. Những ngày hè tôi sẽ làm được nhiều việc bổ ích. Nghĩ là vậy, nhưng muốn làm một điều gì đó thì sợ lắm, nếu đơn vị phát hiện ra thì rất dễ bị đuổi học. Nghĩ đến điều đó mà rùng mình, hú vía. Hè năm học tiếng đã trôi qua một cách lặng lẽ, vô vị. Khi về trường đại học Tổng hợp tôi quyết tâm những tháng hè của các năm học tới phải làm một việc gì đó mà đơn vị không biết và ít nhất phải có đủ nửa số tiền mua vé máy bay. Nếu trót lọt hè năm 1972 tôi sẽ lại tiếp tục công việc đó. Tôi dự định hè năm 1973 sẽ về phép thăm quê. Những năm đó miền đất xứ Nghệ quê tôi đã nghèo đói lại bị chiến tranh ác liệt. Nghĩ đến bố mẹ già yếu, vất vả, túng thiếu mà bao đêm tôi không sao ngủ được. Những gia đình giàu có, con cái muốn về phép thì chỉ cần cú điện thoại hoặc viết mấy dòng cho bố mẹ cần khoảng một nghìn USD là …xin thưa: có ngay. Còn như bọn tôi, bố mẹ chân lấm tay bùn, quanh năm “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” mà quanh năm vẫn thiếu ăn, kiếm đâu ra một vài chục đô-la, huống chi nói đến số tiền “khủng” ấy. Cho nên “dân quê” như bọn tôi muốn về thăm gia đình thỉ phải “tự túc”tất cả. Trăn trở, suy nghĩ, đắn đo, cuối cùng tôi quyết định: phải “trốn” đơn vị đi lao động hè. Và một kế hoạch chi tiết, chặt chẽ được vạch ra. Tôi còn giả định những tình huống có thể “bị lộ” để tìm phương án “giải thoát”. Tôi tự động viên mình:”Nếu sợ thì sẽ không làm được bất cứ việc gì và sẽ không thể về việt Nam thăm bố mẹ được”. Ý chí của tôi lại được cũng cố thêm. Tôi có cắp trộm của cải của ai đâu, đi lao động lấy đồng tiền bằng mồ hôi và sức lực của mình thì sao gọi là tội lỗi? Tôi tự an ủi mình như vậy, quyết tâm những năm học tới phải đạt kết quả học tập xuất sắc để nhỡ ra đơn vị phát hiện tôi đi lao đông hè thì có lẽ “tội” sẽ được “châm chước” nhẹ hơn. Quyết tâm là thế nhưng trước mắt tôi còn nhiều điều mơ hồ, chưa hình dung ra sẽ xin việc làm ở đâu, bằng cách nào, làm cái gì và lương bổng có nhằm nhè gì không? Một phép tính nhiều ẩn số mà chưa có lời giải.

Kết thúc năm học tiếng Bun tôi được xếp loại xuất sắc, nhưng khi về trường đại học Tổng hợp Xô-phia, những ngày đầu lên giảng đường nghe các giảng viên giảng bài về các môn học khoa học tự nhiên thì cảm thấy vốn liếng tiếng Bunga-ri của mình quá ít ỏi. Bao giờ tôi cũng ngồi bàn đầu để nghe cho rõ và mặc dù thần kinh căng như dây đàn suốt buổi học nhưng kết quả thì hầu như là con số không. Nghe không hiểu thì chép bài giảng sao được! Mấy anh bạn Ả Rập, da màu họ nói tiếng Bun như sinh viên người Bun, vì ngay khi mới đặt chân đến đây những đại gia khếch xù này đã có những cô nàng chân dài, xinh đẹp như tiên nghênh tiếp rồi. Không có phương pháp học ngoại ngữ nào hiệu quả hơn là có người yêu bản xứ! Mấy ông “việt cộng” thì đào đâu ra cái diễm phúc này. Cho nên các buổi hội thảo, phụ đạo các chàng trai này phát biểu, tranh cãi ghê lắm, còn chúng tôi- sinh viên Việt Nam, mặc dù rất hiểu bài, nhưng chỉ ngồi “ngậm hạt thị”. Nhiều hôm tôi thấy xấu hổ, ngượng tím mặt.
Để tiện cho việc thực nghiệm ở phòng thí nghiệm và các buổi phụ đạo, thường thường mối khóa học (phụ thuộc vào số sinh viên năm đó nhiều hay ít) được chia làm 5 đến 7 nhóm (lớp). Tôi được xếp vào nhóm của Điagô – Đimitưr Stephanov, nhóm trưởng( Điago là tên gọi thân mật của cậu ta). Điagô không cao bằng tôi, nhưng lại nặng cân hơn tôi. Cậu ta hơi mập, chân tay thì đầy lông lá, tôi cứ tưởng tượng là nếu không mặc quần áo thì chẳng khác gì người rừng, dễ sợ. Bộ ria mép của cậu ta thì thật đặc biệt, lông không thẳng mà quăn tít lên chẳng khác gì những cọng rau muống chẻ nhỏ. Nhìn trực diện tôi liên tưởng bộ ria mép của Điagô giống hệt như hai cái càng của con bò cạp. Nhìn bề ngoài có vẻ khó gần, nhưng thực tế Điagô rất thông minh, cởi mở và tốt với mọi người , đặc biệt là đối với tôi. Hầu như sau mỗi buổi học cậu ta đều cho tôi mượn vở để tối về tôi chép lại bài học hôm đó. Những buổi học đầu tiên Điagô biết tôi chưa quen nét chữ của cậu ta nên sau buổi học cậu ta ở lại giảng đường đọc bài cho tôi chép. Có lẽ một phần Điagô biết tôi yếu tiếng Bun và muốn giúp tôi, hơn nữa cậu ta cũng rất thích tìm hiểu về đất nước, phong tục và con người Việt Nam nên chúng tôi không ngày nào là không đàm thoại, trò chuyện về các vấn đề này trước giờ lên lớp, trong giờ giải lao… Đặc biệt Điagô hỏi tôi nhiều về chiến tranh với một sự đồng cảm sâu sắc. Tôi cảm nhận rằng, Điagô đã giúp tôi nâng cao trình độ tiếng Bun cả về ngôn từ và ngữ điệu. Chúng tôi trở thành bạn thân. Sau mấy tháng học năm thứ nhất tôi có thể nghe giảng và chép bài ở giảng đường của các giảng viên.

2/ Còn một tuần học nữa là kết thúc năm học thứ nhất, sau khi trả các môn thi xong chúng tôi sẽ được nghỉ hè gần 3 tháng. Tôi còn nhớ rất rõ hôm đó là thứ tư, Điagô hỏi tôi:
-“Hè này cậu đã có kế hoạch làm gì hay đi du lịch ở đâu chưa?” Tôi chưa kịp trả lời thì Điago nói tiếp:
– “ Bố mẹ tớ và tớ muốn mời cậu mùa hè này về gia đình tớ chơi, mọi người sẽ rất vui khi cậu nhận lời”.
Điagô nói làm cho tôi choáng, vì điều này – đi chơi xa một mình, theo quy chế sinh viên là cấm kỵ. Tôi đã sổng ở Bungari được hơn một năm rồi, nhưng chỉ “loanh quanh” ở thủ đô Xô-phia thôi, chưa được phép đi đâu xa khỏi thành phố. Để cho bạn tôi khỏi thất vọng, tôi trả lời theo kế hoãn binh:
-“ Còn mấy ngày học nữa mà Điagô, rồi sau đó lại còn trả các môn thi nữa, vội gì. Tớ cũng chưa có kế hoạch nghỉ hè ở đâu cả”. Điagô nói thêm:
-“ Còn hai ngày nữa là kết thúc năm học, tớ không ở lại Xô-phia mà về nhà ôn thi. Tốt nhất là thứ 6 tuần này cậu trả lời để thứ 7 về quê tớ thông báo cho bố mẹ tớ vui. Hôm qua bố tớ lại gọi điện hỏi thăm về cậu đấy.” Tôi đồng ý là sẽ trả lời nó sau 2 ngày.
Điagô đã kể cho tôi nghe nhiều chuyện về gia đình và quê hương cậu ta. “Ông mâp” (trong lớp bọn tôi thường gọi thân mật cậu ta với biệt danh như thế) sinh ra và lớn lên ở tỉnh Kiustenđin, một tỉnh nằm ở phía Bắc Bungari. Đây là vùng đất trồng cây ăn quả lớn nhất nước. Hàng năm Kiustenđin cung cấp các loại trái cây như nho, đào, táo, mận, dưa hấu, lê,v.v… không những cho các địa phương trong nước mà còn xuất khẩu sang các nước khác như Thổ nhĩ kỳ, Nam Tư, Tiệp Khắc, CHDC Đức…Mùa nào thứ đó, hễ Điagô thứ bảy, chủ nhật về quê là sáng thứ hai thế nào chúng tôi cũng có quà: hoặc một cái rổ bự, hoặc một bao tải đầy trái cây. Bố Điagô là chủ tịch một nông trang- Nông trang Thắng Lợi. Sau khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ II ông giải ngũ và thi đậu vào trường Đại học Nông nghiệp Ploovđiv, học khoa chăn nuôi-thú y. Tốt nghiệp ông về quê góp sức xây dựng nông trang. Mẹ Điago là giáo viên Trung học cơ sở và còn một em gái học lớp 10.
Ngày cũng như đêm sau khi nghe Điagô mời về thăm quê cậu ta, tôi cứ bồn chồn, suy nghĩ. Cuối cùng một ý nghĩ lóe sáng trong đầu tôi: “Sao không về nông trang bố Điagô xin lao động hè?” Tôi quyết định sáng mai-thứ sáu có giờ thực nghiệm ở lớp, tôi sẽ nói chuyện với Điagô. Tôi chưa vào đến lớp cậu ta đã chờ ở hành lang. Thấy tôi “ông mập” chạy đến và hỏi ngay:
-“ Cậu đã quyết định chưa?”. Tôi giả vờ như đã quên chuyện cũ, mặt tỉnh bơ, chọc tức cậu ta:
– “ Quyết định điều gì Điagô?” Nghe tôi nói thế, cậu ta tức tối hét tướng lên:
-“ Điều gì, điều gì,… có về nhà tớ chơi không”. Thấy không thể làm bộ làm tịch với cậu ta được nữa, tôi đành dịu giọng:
-“ Tớ quyết định rồi, hè này sẽ về thăm gia đình cậu.” Ồ, không ngờ tôi nói chưa hết câu cậu ta đã mừng ra mặt, nhảy cỡn lên, ôm chầm lấy tôi, bế tôi lên xoay xoay mấy vòng và miệng cứ lắp bắp:
-”Rất tốt, rất tốt, thật tuyệt vời…”.
-“ Nhưng tớ không phải chỉ có đến chơi nhà cậu đâu, mà còn có một ý
định khác, cậu có thể giúp tớ được không?”. Điagô sốt sắng:
-“Việc gì nào, nói nhanh lên”. Thế là tôi kể cho cậu ta nghe hết ý định của tôi về quê cậu ta xin việc làm để góp tiền sau 2 năm nữa về phép thăm gia đình. Một điều tôi cũng tâm sự thật với cậu ta là việc này theo quy chế lưu học sinh Việt Nam không được phép làm và “bắt” cậu ta hứa với tôi: không để lộ chuyện này cho bất cứ một ai trong lớp biết, đặc biệt là sinh viên Việt Nam.
Nghe xong Điagô nhếch bộ ria mép lên và cười. Tôi biết những điều tôi nói ra làm cậu ta ngạc nhiên, buồn cười, khó hiểu. Cuối cùng cậu ta quả quyết:
-“Được rồi, những điều cậu nói làm tớ …không thể nói được điều gì, nhưng thôi cậu không cần giải thích. Mọi yêu cầu của cậu tớ chấp hành triệt để. Cậu sẽ lao động ở nông trang bố tớ. Bố tớ sẽ rất vui, vì nông trang còn thiếu lao động, hơn nữa mùa hè là mùa thu hoạch trái cây”.
Tôi thống nhất với Điagô là sau một tuần nghỉ hè sẽ đáp tàu hỏa về quê cậu ta. Mọi kế hoạch chúng tôi bàn kỹ, Điagô sẽ đón tôi ở ga tàu vào buổi chiều ngày thứ bảy, ngày chủ nhật chơi ở nhà cậu ta và sáng thứ hai là “ra đồng”. Tàu hỏa từ Xô-phia đi Kiustenđin và ngược lại ngày hai chuyến: sáng và chiều. Quảng đường chỉ dài hơn 100 km và tàu chạy mất hai giờ.
Kết thúc năm học thứ nhất (1970-1971) tôi được Đại sứ quán khen thưởng – đạt danh hiệu “sinh viên xuất sắc”. (Thang điểm của các trường đại học Bungari rất khác ta: dưới điểm 2 – không đạt yêu cầu; điểm 3-4: trung bình; điểm 4,5-5: khá; điểm 5,5 -6: xuất sắc). Ngoài việc khen của Đại sứ quán, tôi còn có thêm một niềm vui nữa đó là tôi được nhà trường thưởng một tháng lương học bổng về thành tích học tập- đó là Quy chế của Bộ Đại học Bungari đối với những sinh viên đạt điểm xuất sắc cả năm.
Hè đến ai cũng cảm thấy thoải mái. Một năm học với bao lo toan vất vả đã qua, những mùa thi căng thẳng, luôn luôn cảm thấy thiếu hụt thời gian cũng đã xong! Mùa hè ở Xô-phia thật mát mẻ dễ chịu, ban đêm hơi se lạnh, nhiệt độ khoảng 22-25 độ C. Ban ngày thì nhiệt độ cao hơn: 28-30 độ , nóng lắm cũng chỉ tới 32 độ là cùng. Bầu trời ngày cũng như đêm hầu như không có mây, xanh biếc. Chỉ khi hoàng hôn đến mới nhin thấy những vệt mây mỏng manh tựa như những dải lụa hồng trôi bồng bềnh phía cuối chân trời. Bầu trời ban đêm đầy ắp sao. Ta có cảm giác như chỉ cần lên cao vài trăm mét là có thể chạm đến các vì sao, vì trời trong xanh quá nên ánh sao sáng rực lên, làm cho ta có cảm giác như chúng quá gần. Tôi tính từng ngày và hè đã trôi đi gần hết một tuần rồi. Điagô chắc chắn cũng đang nóng lòng chờ đến ngày chúng tôi đã “ước hẹn”. Tôi bịa chuyện “xin phép” đơn vị đi thăm bạn ở thành phố Plovđip- nơi có ông bạn Thuần đồng hương tôi đang học đại học Y khoa và sau đó xin phép đi thăm ông bạn Kỳ- đang học trường Máy ở thành phố biển Vacna. Tất nhiên tôi không đến những chổ đó mà đáp tàu hỏa về tỉnh Kiusten-đin – đến nhà Điagô.

.Nhớ người bạn Điago của tôi-đã mấy chục năm rồi. Nhanh thật.

3/ Theo lịch, chuyến tàu thứ hai trong ngày Xô-phia – Kiustenđin sẽ rời ga lúc mười ba giờ. Hôm ấy thứ bảy, buổi trưa, sân ga Xô-phia có vẻ không nhộn nhịp, đông người như những chuyến tàu sáng – mọi người đi dã ngoại hay về quê thăm gia đình trong hai ngày nghỉ cuối tuần nên tranh thủ đi càng sáng sớm càng tốt. Bây giờ tôi mới hiểu lý do tại sao Điagô bảo tôi nên đi tàu vào buổi chiều sẽ rộng rãi và thoải mái. Tôi ra ga sớm hơn giờ tàu chạy 15 phút. Hành lý mang theo chỉ vài bộ quần áo tự may dùng cho mùa hè, hai đôi giày vải lao động cùng với mấy thứ sản phẩm” made in Việt Nam” để làm quà: chiêc nón lá Huế, chiếc lược bằng kim loại làm từ xác máy bay Mỹ, bức tranh cô dân quân bắt sống phi công Mỹ và một cái giỏ mây. Bỗng dưng tiếng còi tàu vang vọng cả sân ga. Đúng 13 giờ, tàu từ từ lăn bánh. Tâm trạng tôi thật khó tả.Trong tôi tồn tại cùng lúc hai luồng suy nghĩ: sự lo âu, sợ hãi, nhỡ ra việc bị lộ và sự bồn chồn, hồi hộp sắp được gặp lại Điagô, rồi công việc “đồng áng” sẽ ra sao đây…? Nỗi bức xúc trong người tôi cứ dâng trào theo vòng quay tăng tốc của bánh tàu hỏa. Cuối cùng tôi tự nhủ: “Hãy gác lại tất cả, không suy nghĩ mông lung nữa. Mọi chuyện sẽ tốt đẹp”. Dần dần tôi cảm thấy thoải mái và phóng tầm mắt ra xa ngắm nhìn phong cảnh. Sau khoảng 20 phút lăn bánh, tàu đã ra vùng ngoại ô thành phố Xô-phia. Trước mắt tôi là những cánh đồng lúa mỳ vàng óng sắp đến ngày thu hoạch trải rộng mênh mông, xa tít. Đoàn tàu giống con rắn khổng lồ trườn trên đường ray, lao vun vút như mũi tên, thỉnh thoảng rú lên một hồi còi gầm vang cả vùng quê yên tĩnh, làm cho những chú chim đang chăm chú tìm mồi trong ruộng lúa mỳ hốt hoảng bay toán loạn. Tàu lại bắt đầu chạy qua cánh đồng hướng dương. Những cánh hoa hướng dương to như cái đĩa xôi, tất cả đang quay về hướng mặt trời để hấp thụ năng lượng. Thiên nhiên thật đa dạng và kỳ thú. Có những loại cây luôn luôn hướng về mặt trời như cây hoa hướng dương, có những loại cây lại chỉ sống được ở dưới đáy đại dương, rồi có những loại cây lại bắt được cả côn trùng, sâu bọ.v.v… Tôi ngồi bên cửa sổ toa tàu vừa ngắm cảnh vừa liên tưởng. Chợt nhớ đến thời gian, tôi nhìn đồng hồ. Còn 10 phút nữa là tàu đến thành phố Kiustenđin. Vừa lúc đó tiếng loa trên tàu cũng thông báo cho mọi người chuẩn bị xuống ga cuối cùng.
Tàu từ từ dừng bánh. Từ ga Xô-phia khi mua vé xong tôi đã thông báo cho Điagô ngồi ở toa nào, nên khi tàu đến sân ga Kiustenđin cậu ta không mất thời gian mấy để phát hiện ra tôi. Từ xa chúng tôi đã nhìn thấy nhau. Khi tôi xuống tàu thì cậu ta cũng vừa đến. Hai đứa ôm nhau, xiết chặt tay thắm thiết như đã xa nhau lâu lắm rồi. Điagô nói:
-“ Cả nhà tớ đang chờ cậu trong phòng đợi, ta đi nhanh lên.”
Điagô xách hộ tôi cái túi. Tôi đi sau cậu ta. Sau mấy phút đi bộ chúng tôi vào đến nhà ga. Ba người đang đứng trước phòng đợi, có vẻ sốt sắng, phấn khởi. Tôi đoán là bố, mẹ và em gái Điagô. Và đúng thế thật, khi nhìn thấy hai chúng tôi ba người vội vàng đến gần. Bố Điago tuổi khoảng trên dưới 50, cao to, vạm vỡ, đúng là một lực điền. Ông đi đôi giày màu da ngựa, bóng lộn, chiếc áo trắng cộc tay kẻ sọc bỏ gọn trong cái quần jean màu đen trông thật khỏe khoắn, bảnh bao. Mái tóc đen của ông đã điểm vài sợi bạc, nước da đỏ màu gạch nung. Ông có khuôn mặt vuông vắn, phúc hậu, bộ ria mép thì giống hệt y như bộ ria mép của con mình-Điago. Bà vợ cũng cỡ tuổi như ông ta, chỉ khác là có làn da trắng và mái tóc vàng, quăn tít, được trang điểm rất kiểu cách. Điagô chưa kịp giới thiệu thì mẹ cậu ta nhanh nhẩu đỡ lấy bó hoa hồng từ tay con gái, đến tặng tôi, bắt tay, hôn má tôi và nói:
-“ Chào Cúc, bác là Điana mẹ Điagô. Thật tuyệt vời khi cháu đến thăm gia đình hai bác.”
Bác Kưntro thì bỏ qua phép xã giao thông thường, trong lúc bà Điana còn nắm chặt tay tôi chưa kịp buông thì bác đã ôm chặt tôi như những người đã quen biết lâu rồi. Bác nói trong nỗi xúc động thực sự:
-“ Xin chào Kyk-trô, đất nước Bungari cảm phục dân tộc Việt Nam lắm. Hôm nay được gặp cháu, một con người bằng da, bằng thịt của một dân tộc anh hùng. Các bác hạnh phúc và hãnh diện lắm.” Lời nói của bác Kưntro làm tôi cảm động vô cùng. Tôi chưa biết đáp lời ra sao thì ông lại khua hai tay lên trời, vừa nói, vừa cười đôn hậu, hình như để mọi người xung quanh nghe và để tạo ra bầu không khí thân mật vui vẻ :
-“ Và một điều nữa làm bác quá ngạc nhiên mà Điagô chưa nói. Đó là tại sao người Việt Nam nhỏ nhắn lắm mà cháu lại cao to đến thế? Sẽ là một lực sỹ khuân vác trái cây đắc lực đây!” Đúng là mọi người ai cũng cười, nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên, trìu mến. Tôi trả lời:
-“ Do cháu ăn nhiều cơm gạo Bungari và siêng tập thể dục thể thao đấy bác ạ.”.
Ở cái tuổi ăn, tuổi lớn mà những năm tháng sống cùng bố mẹ ở quê, trừ ba ngày Tết là được ăn uống hơi thoải mái, còn quanh năm hầu như bụng cứ lép kẹp sát sườn, làm sao mà cao lớn được. Có phải riêng gia đình tôi thế đâu. Cả làng nhà nào cũng thế. Mới sống ở đất Bun hơn hai năm tôi đã đạt đến một “định mức” mà nhiều người thèm khát: cao 1,82m, nặng 82 cân. Tôi ăn khỏe và tập luyện bền bỉ, thường xuyên. Tôi ý thức sớm được giá trị của sức khỏe đối với cuộc sống. Trong suốt cả các năm học, nắng cũng như mưa, ngày nào tôi cũng giành cho thể thao ít nhất một giờ. Hầu như sáng nào từ 5 giờ 30 tôi đã chạy bộ từ khu ký túc xá sinh viên ra cánh đồng ngô gần đấy tập các động tác thể thao, hít thở không khí trong lành, đến 6 giờ 30 thì trở về phòng, tắm, ăn sáng và nhảy tàu điện hoặc ô-tô buýt đến trường. Những buổi chiều ít giờ lên lớp, được về sớm, hay những ngày thứ bảy, chủ nhật tôi ít khi vắng mặt ở sân thể thao. Ba năm sau – năm học cuối cùng thì các số đo của tôi đạt đến mức bão hòa: chiều cao- 1,84, cân nặng 84kg.
Mãi vui vẻ, chào hỏi nhau, mọi người quên bẵng đi có một cô gái còn bẽn lẽn đứng nép mình bên góc tường, đôi má ửng hồng, nhìn tôi không ngớt. Tôi biết chắc đó là em gái Điagô.Chủ động đến bên em, tôi nói:
-“ Nào, ta làm quen với nhau đi Katia, anh là Cúc. Em cầm hộ anh bó hoa rồi ta cùng về nhà”. Katia vui hẳn lên, trả lời tôi:
-“ Em biết tên anh lâu rồi, không những là tên mà cả họ và tên lót nữa-Vương Khả Cúc. Anh Điagô đã kể cho em và bố mẹ nghe nhiều về anh lắm”. Nghe em nói giọng nhỏ nhẹ sao mà dễ thương đến thế, tôi thoáng ngạc nhiên. Em cầm bó hoa trên tay tôi rồi chạy về phía mẹ. Katia cao gần bằng mẹ, nước da em trắng hồng, đôi mắt to, tròn, xanh ngọc bích; sống mũi hơi cao, dài nên ai nhìn cũng có cảm giác như đôi mắt em hơi sâu. Tóc em không để thẳng mà buộc thành hai búi nằm gọn hai bên thái dương.

4/ Mọi người lên ô-tô mác “Gigunly”, bác Kuntro cầm lái. Ngồi trên xe ai cũng hỏi chuyện tôi, chỉ trừ Katia. Xe chỉ chạy khoảng 15 phút thì chúng tôi về đến nhà bác Kưntro. Nhà ông bà ở giáp gianh thành phố, một làng ven đô. Xe đi thẳng vào sân nhà. Mấy năm rồi sống ở nơi thành thị ồn ào, náo nhiệt, hôm nay được trở lại vùng quê yên tĩnh, không khí ngọt lành tôi có cảm giác như được trở về quê hương xứ Nghệ mình vậy. Chỉ khác là nơi đó bấy giờ đang chiến tranh ác liệt, mọi người đang gồng mình chịu đựng bom đạn và đánh trả máy bay Mỹ.
Ngôi nhà ông bà Kưntro xây trên một khu đất rộng, xung quanh bao bọc bằng một hàng rào thưa bằng những thanh gỗ sồi, cao chừng 1,5m, sơn màu trắng trông thanh nhã và tinh khiết. Ở trong hàng rào, phía trước nhà là một dãy cây táo, cây nào cũng trĩu quả. Những qủa táo to, da đỏ au trông thật hấp dẫn. Phía sau nhà lại là một dãy cây mận, cành lá xum xuê, qủa chi chít, chín mọng. Bên trái và bên phải ngôi nhà là những cây lê cao vút, quả đã chuyển sang màu vàng rộm. Những quả chín sớm bị chim hoặc dơi khoét sâu hoắm, loại quả này là thức ăn khoái khẩu của chúng, vừa mềm vừa ngọt. Dưới gốc cây có lẽ tối qua bị gió lay mạnh nên một ít quả rơi xuống, nát vụn. Trong vườn, chỉ trừ lối vào cổng chính, không có chổ nào là đất bỏ trống cả. Giàn nho cao khoảng 2,2 mét phủ kín khắp vườn với những chùm quả nặng trĩu như muốn kéo sập cà giàn xuống đất. Nhìn những quả nho chín mọng,vàng ươm tôi tứa nước bọt thèm khát.Tôi ngắm khu vườn không chán mắt. Đúng là vùng đất này phì nhiêu, màu mỡ thật, cùng với sự siêng năng, chịu khó của con người nơi đây đã tạo nên bức tranh phong cảnh hiếm có, đầy tính sáng tạo, vừa mang tính nghệ thuật, vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Chúng tôi chưa vào nhà mà ngồi nghỉ ngoài sân, ở đó đã kê sẵn một bộ bàn ghế sơn màu giả gỗ. Điagô vào nhà khệ nệ bê ra cái đĩa to bự đầy ắp đủ các loại quả tươi, đặt lên bàn. Bác Điana lấy nước cho vào lọ và cắm bó hoa tặng tôi ở sân ga vào đó. Bóng mát giàn nho bao trùm cả khu vườn. Gió nhẹ làm những tia nắng xuyên qua kẽ lá cứ nhảy nhót trên nền cỏ xanh. Katia nhanh nhảu pha trà, rót nước vào cốc và mời mọi người. Ông Kưntro cứ luôn miệng mời tôi uống nước và ăn trái cây. Luôn tiện tôi lấy quà tặng mọi người. Tôi biếu bác gái Điana cái nón lá Huế, bác trai Kưntro bức tranh cô dân quân bắt sống giặc lái Mỹ, còn Điagô thì tặng cái lược làm từ vỏ máy bay. Tôi biết Katia thích cái giỏ mây đan nên tặng luôn. Mọi người ai cũng phấn khởi, ngạc nhiên, thích thú khi nghe tôi giới thiệu về những kỷ vật này. Đặc biệt khi tôi nói về bức tranh “cô du kích nhỏ giương cao súng, thằng Mỹ lom khom bước cúi đầu…” với bốn câu thơ minh họa của nhà thơ Tố Hữu thì mọi người tỏ vẻ thán phục. Còn bác Kưntro cầm lấy bức tranh, đứng dậy khỏi ghế và nói dõng dạc:“ Dân tộc Việt Nam vĩ đại thật, chỉ có dân tộc Việt Nam mới đánh thắng đế quốc Mỹ. Tôi quả quyết như vậy.”. Bốn năm sau- năm 1975 khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, bác gọi điện chúc mừng, tôi trả lời :” Lời tiên đoán của bác nay đã thành sự thật rồi bác ạ.” Bác sung sướng cười toáng lên.

5/ Cuộc nói chuyện rôm rả làm chúng tôi quên rằng đã hơn năm giờ chiều. Bác Kưntro nhìn đồng rồi đứng dậy khoác vai tôi nói:

-Kyk-trô, bác muốn mời cháu đi xem ngôi nhà . Ngôi nhà xây dựng theo kiểu châu Âu, xứ lạnh mà, chắc chắn là không giống những ngôi nhà châu Á.”
Ngôi nhà ông bà Kưntro gồm 3 tầng, một tầng dưới mặt đất và hai tầng nổi. Do đặc điểm khí hậu, nhà ở châu Âu sau khi đổ mái bằng người ta đều phải làm kèo lợp ngói, với hai lý do: cho đỡ giá lạnh về mùa đông và là nơi trú ngụ an toàn của các loài chim về đêm. Ở Bun cũng nhiều chim lắm, đặc biệt là chim bồ câu, từng đàn có thể hàng trăm, hàng nghìn con bay lượn khắp thành phố, làng quê, trông thanh bình làm sao.
Bác Kưntro dẫn tôi xuống tầng hầm. Phòng đầu tiên bác mở cửa là phòng chưng cất các loại rượu: rượu nho, rượu mận, rượu dâu, rượu quả anh đào…Mùi hoa quả lên men thơm ngào ngạt. Bác giới thiệu những công đoạn cơ bản về công nghệ sản xuất một số loại rượu. Những thùng bằng gỗ, bằng sành sứ dùng để ủ, lên men rượu có thể tích khoảng 200-500 lít xếp ngăn nắp sát tường nhà. Các chai lọ thủy tinh đựng rượụ đủ các cỡ đã sắp sẵn trong các hộp gỗ mộc. Tôi hỏi:
-“Mỗi năm bình quân bác chưng cất bao nhiêu lít rượu hả bác?”.
-“ Tùy từng năm, nhưng bình quân khoảng 400 lít, những năm có việc lớn của gia đình thì có thể lên đến 500- 700 lít”. Bác trả lời.
-“ Bác có bán không, hay chỉ để uống thôi”,
-“Không bán, chỉ để uống thôi. Ở vùng này nhà nào cũng tự nấu rượu bằng chính những loại quả do nhà trồng được. Hoàn toàn tự túc, không mua, không bán.” Ngừng một lát bác lại nói thêm:
-“ Thường thường các loại rượu nấu năm nay nhưng phải cất giữ dưới hầm lạnh hai ba năm sau, hoặc lâu hơn nữa uống mới ngon. Rượu để càng lâu càng dậy mùi, uống thơm và đã lắm.”. Nói đoạn bác mở nắp một thùng nho đang lên men, lấy gáo múc một ít nước đưa cho tôi uống. Tôi nếm thử, nó vừa ngòn ngọt, vừa chua chua, lại có cả vị đăng đắng nữa. Nhìn mặt tôi hơi chau lại, bác cười:
– “ Các thùng này sau 10 ngày nữa mới chưng cất hành rượu được”. Bác vừa nói vừa đậy nắp thùng lại. Chúng tôi đi ra khỏi phòng.
Phòng thứ hai bác Kưntro dẫn tôi vào là kho rượu. Thật khó tả thành lời. Một căn phòng khoảng 15m2 mà các bình, lọ đựng rượu để chật cả lối đi. Tôi nhớ không hết những loại rượu bác đã giới thiệu tôi nghe. Mỗi loại rượu có một màu sắc và một mùi vị đặc trưng. Có những loại rượu đã cất giữ ở đây 17 năm. Tôi đang mải mê ngắm nghía kho rượu thì bác nắm hai vai tôi lắc mạnh:
-“Ban lãnh đạo nông trang đã thống nhất là tối mai chủ nhật sẽ tổ chức bữa tiệc mặn, uống rượu, ca hát, nhảy múa.” Tôi ngạc nhiên hỏi:
-“Có sự kiện gì hả bác?” Bác Kưntro cười to:
-“Cháu không phải ngạc nhiên, không có sự kiện nào cả, chỉ là Ban lãnh đạo muốn giới thiệu cháu với mọi người trong nông trang này, để mọi người biết cháu, làm quen với cháu – một đứa con của một dân tộc mà cả thế giới khâm phục.”
Tôi hãnh diện về câu nói của bác Kưntro, nhưng lại cảm thấy hổ thẹn vì mình chỉ là một thằng học sinh đã làm nên trò trống gì đâu cho đất nước mà lại được hưởng cái ân huệ lớn vậy. Hình như bác Kưntro hiểu được nỗi băn khoăn của tôi, liền động viên:
-“Bây giờ cháu chỉ việc học thật tốt, sau này sẽ giúp ích cho đất nước nhiều lắm đấy. Đất nước Việt Nam sau chiến tranh sẽ rất cần những con người làm khoa học như cháu”.
Bác nhìn tôi trìu mến. Hai người cùng rảo bước. Cánh cửa kho rượu khép lại sau lưng tôi.
Phòng cuối cùng ở tầng hầm mà chúng tôi vào là kho chứa thức ăn. Thức ăn được đặt trên các tầng của các kệ hay gọi là giá đỡ. Mỗi kệ có 5 tầng, mỗi tầng cách nhau 40-50 phân , bằng lưới inox. Độ rộng của kệ khoảng một mét, độ dài khoảng ba mét. Tôi tính có 4 cái kệ như thế. Ôi, thì đủ loại thức ăn củ quả: nào tỏi, dưa chuột, cà rốt… trộn lẫn muối và gia vị, đựng trong những lọ thủy tinh đậy nắp đã được hấp, luộc khử trùng cẩn thận; Các loại quả ướp sẵn trong dung dịch đường cũng nhiều lắm: mận, lê, dâu tây, anh đào… Những củ hành tây to như nắm tay được buộc thành dây dài treo trên các đinh đóng vào tường. Thịt đã chế biến cũng nhiều loại: thịt hun khói, xúc xích, thịt ướp muối, thịt dăm bông, thịt hộp… Các sản phẩm này được làm từ bê, cừu, lợn, gà, ngan, ngổng, ngựa… Những thức ăn này không phải nấu nướng gì cả, chỉ cần một động tác đơn giản là cạy nắp hoặc thái mỏng là ăn ngay. Điều này đã lý giải cho tôi: tại sao mỗi lần Điagô về nhà, khi lên Xô-phia tôi lại có một túi thức ăn đủ loại.
Tầng một ngôi nhà gồm hai phòng chính: phòng bếp và phòng tiếp khách – sinh hoạt gia đình. Hai phòng đều rộng rãi và thoáng đãng. Phòng bếp sơn màu vàng chanh, trên tường treo mấy bức tranh vẽ hoa và trái cây, màu sắc sặc sỡ. Cái tủ lạnh ba ngăn to vật vã kê ở góc tường gần tủ đựng bát đĩa. Giữa phòng đặt một cái bàn tròn đường kính khoảng 1,5 mét với 10 cái ghế tựa bao quanh. Bên trái cửa chính phòng bếp là cái tủ 4 ngăn đựng rượu. Đối với những kẻ “nát rượu” đứng trước cái tủ đầy ắp những rượu này có lẽ rất thích thú, hưng phấn, còn tôi- kẻ sợ rượu, thì cứ ngợp ngợp thế nào ấy.

6/ Phòng khách trang trí thật trang nhã. Tường được phủ bằng giấy dán tường với những hoa văn đẹp mắt, ấn tượng. Có hai tấm ảnh đen trắng cùng kích cỡ ( khoảng 50cmx50cm) và hai bức tranh màu to hơn (khoảng 80cmx80cm) treo trên bốn bức tường. Tôi nhận ra bác Kưntro trong một tấm ảnh với bộ quân phục gắn lon trung úy, đứng khoác vai một đại úy. Hai người đều mặc quân phục hồng quân Liên Xô. Theo như lời bác kể, bác thuộc đội quân tình nguyện Bungari tham gia hồng quân Xô-viết trong chiến tranh thế giới thứ II chống phát-xít Đức. Người sỹ quan kia thuộc dân tộc Kazastan. Còn hai người, một nam, một nữ trong tấm ảnh còn lại thì thật sự tôi không thể nhân ra ai, vì họ đều quá trẻ,tuổi khoảng mười tám, đôi mươi. Hai người rất hồn nhiên, tươi trẻ. Bác Kưntro chỉ tay về phía tấm ảnh tôi đang nhìn chăm chú và hỏi:
-“ Cháu có nhận ra hai người trong tấm ảnh kia không, Kyk-tro?
-“Cháu không thể bác ạ.”
– Ảnh bác và bác gái Diana chụp lúc còn đang học lớp 12, trước khi bác được lệnh nhập ngũ đấy.”. Tôi nói đùa:
-“ Hai bác yêu nhau sớm quá”. Bác cười phá lên:
-“Lúc đó mới là bạn thôi. Sau này mới yêu.”
Hai bức tranh phong cảnh còn lại thì đã trở thành nổi tiếng mà ít ai không nhận ra: “Quảng trường đỏ”- Mạc-tư-khoa và mùa Đông trên đỉnh núi Vi-tô-sa.
Phía sát bức tường đối diện với cửa vào phòng khách kê một cái tủ gỗ, cao khoảng 0,8 mét chạm trổ rất đẹp. Trên tủ ở giữa đặt một màn hình ti-vi 42 inch, hai bên là hai cái thùng loa cao nhưng trông thanh nhã. Bộ amply đặt dưới gầm tủ. Bộ xa-lông bằng da màu cánh gián kê sát tường đối diện với màn hình ti vi. Phía trước cạnh xa-lông là cái bàn xinh xắn, trên để lọ hoa pha lê với những bông hồng tươi rói, sặc sỡ , tỏa mùi thơm nức.
Ngồi uống trà và trò chuyện ở phòng khách một lúc thì bác Kưntro dẫn tôi lên tầng hai ngôi nhà. Trong lúc bác dẫn tôi đi xem “ngôi nhà châu Âu” thì ba người- bác gái Điana, Điago và Katia, hì hục ở phòng bếp, chuẩn bị bữa tối.
Tầng hai gồm 4 phòng: phòng ngủ của vợ chồng bác Kưntro, một phòng của Điago, một phòng của Katia và một phòng ngủ dành cho khách. Bác Kưntro dẫn tôi đi dọc hành lang và giới thiệu qua phòng ngủ của các thành viên trong gia đình. Đến phòng khách bác mở cửa mời tôi vào, nói:
-“ Kyk-tro, đây là căn phòng mà cháu sẽ ở suốt mùa hè. Hãy lấy tư trang lên, nghỉ ngơi một lúc, sau đó nước nóng đã có sẵn, tắm đi rồi xuống nhà ta ăn tối, có lẽ mọi người đã chuẩn bị sắp xong rồi”.
Tôi theo bác xuống xe lấy đồ đạc, tư trang xách lên phòng. Tôi mở tủ đựng áo quần, đặt mọi thứ vào đó, cởi đôi giầy đã vẹt gót để vào góc phòng. Rồi chẳng thèm cởi bộ quần áo đang mặc, cứ để thế và… phốc một cái tôi đã nằm ngửa, hai chân hai tay giang rộng trên giường. Ôi, sao mà cảm giác thoải mái, thư giãn đến thế! Bây giờ tôi mới có thời gian ngắm nghía “nội thất” phòng khách. Cái giường lò xo bằng kim loại sáng bóng được phủ một tấm đệm dày bọc vải, trên cùng lại được giải một lớp vải trắng muốt. Chiếc gối thêu hoa rất cầu kỳ. Phía chân giường cái chăn len mỏng, màu mận chín được xếp gọn gàng. Đặt cạnh cái tủ gỗ đựng quần áo của khách là cái tủ lạnh nhỏ bé, xinh xinh, trong đựng đầy trái cây và nước tinh khiết. Cái màn hình vô tuyến khoảng 29 inch được đặt trên giá đỡ gắn vào tường. Ở vị trí đó, người nằm trên giường hoặc ngồi làm việc ở bàn cũng đều có thể xem được tivi. Ngắm căn phòng sang trọng và những điều gì đã tận mắt nhìn thấy mấy giờ qua ở trong ngôi nhà của gia đình ông bà Kưntro, tôi thấy cuộc sống của họ thật sung túc, đầy đủ. Và bỗng nhiên tôi lại nghĩ về làng xóm, quê hương, gia đình…mà nơi đó hàng ngày hàng giờ cả dân tộc Việt Nam đang phải gánh chịu bao nhiêu đau thương mất mát do bọn xâm lược Mỹ gây ra. Lòng tôi se lại, nước mắt tự nhiên cứ trào ra, thương dân mình lại càng căm thù bọn Mỹ- những kẻ sát nhân bất chấp lẻ phải.
Phía ngoài căn phòng, trên lan can ban công gần cửa sổ chủ nhà đặt những chậu hoa hồng đủ màu: hồng đỏ, hồng tím, hồng trắng, hồng xanh da trời… trông lộng lẫy làm sao! Người ta nói Bungari là “Đất nước hoa hồng” quả không sai. Trên các ban công nhà cao tầng, dưới những góc sân, hai bên vệ đường…đâu đâu cũng thấy hoa đủ loại, nhiều màu mà đặc biệt là hoa hồng. Những vùng chuyên canh chỉ trồng toàn hoa hồng như tỉnh Kazanlưk hàng năm xuất khẩu sang Pháp và một số nước khác hàng trăm tấn tinh dầu được chiết xuất từ loại hoa này.
Mang tiếng là đã ở “Tây” hơn hai năm rồi nhưng chưa bao giờ, dù chỉ một lần, được ở trong một căn phòng sang trọng, đủ mọi tiện nghi như thế này đâu. Chúng tôi sống và học tập ở đây so với sinh viên ở trong nước thời bấy giờ thì đúng là quá đầy đủ rồi. Nhưng nhìn chung ở đâu cũng thế, sinh viên là “vô sản” nhất. Khu ký túc xá sinh viên Bungari– 4 người một phòng khoảng 15 mét vuông, mỗi tầng nhà có một khu vệ sinh, một phòng tắm, một phòng đọc sách công cộng để cho khoảng 120-150 sinh viên sử dụng. Khổ nhất là những ngày giá rét mùa đông không đủ nước nóng để tắm hay lò sưởi trong phòng ở không hoạt động.
Tắm xong, thay bộ quần áo mới, chải lại mái tóc làm hai ngôi cho chỉnh tề, xịt thêm mấy giọt nước hoa đã có sẵn trong phòng tắm, “ ông khách” lúc này trông “bảnh bao” làm sao! Đã đến giờ ăn tối. Tôi xuống phòng bếp thì mọi người cũng bắt đầu ngồi vào bàn ăn. Nhìn thấy tôi ai cũng tỏ vẻ lạ lẫm, bác Kưntro thì tấm tắc khen:
-Trông cháu bây giờ giống như một nhà ngoại giao đẳng cấp đấy Kyk ạ, thật tuyệt.”. Tôi biết ông đùa nên trả lời:
– Tiền học bổng bọn cháu ít lắm mà quần áo hàng hiệu thì lại đắt đỏ nên sinh viên Việt Nam thường tự may lấy để mặc. Và bộ quần áo này cũng do chính tay cháu may đấy”. Mọi người cùng ồ lên, tỏ vẻ thán phục. Còn Katia thì nói to:
– Em nhất định lên Xô-phia để anh dạy cho em học may. Người mặc quần áo đẹp là do thợ may chuẩn”. Mọi người đều đồng tình.

Pages: 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10

6 Comments (+add yours?)

  1. Ngô Tuân Minh
    Dec 24, 2014 @ 09:12:02

    Ngô Tuấn Minh đi lao động hè và cưa đổ bà vợ bây giờ, Hội dete của khóa 1976 đó. Chắc do không gian vắng vẻ con người cần tình cảm nên mới dễ cưa đổ.

    Reply

  2. mrxuanloc
    Dec 18, 2014 @ 14:26:04

    Xuân Lộc là lớp hậu sinh, gặp bác Cúc ít nhất 4 lần ở Bulgaria, hình như 2 lần vào năm 1978 ở Sofia,lúc bác ở lại bảo vệ luận án phó tiến sĩ, một lần cũng ở sofia trên cao ốc bác ở khi trở lại Bul làm tiến sĩ vào khoảng 1985-86 gì đó và một lần ở Gabrovo khi bác xuống Gabrovo chơi, mình đến thăm và hình như bác cũng có đến chơi căn hộ của mình nữa, năm 1987, lúc đó con gái lớn của mình đã được 3 tuổi, không biết bác có nhớ không.?
    Mình có 4 cuốn nhật ký viết ở Bulgaria, năm 1995 ở Sài Gòn hai cô con gái ở nhà mở tủ thấy bố viết hết rồi nên lấy bán ve chai ăn kẹo chơi, nên giờ chỉ nhớ sự kiện mà không chính xác thời gian, rất tiếc.
    Tự truyện của một nhà khoa học tất sẽ có nhiều trãi nghiệm lý thú. Chúc bác thành công như cuộc đời bác đã…

    TÌNH NGƯỜI
    Tặng GS TSKH Vương Khả Cúc
    Xứ sở hoa hồng ngày ấy gặp anh
    Mái tóc tôi còn thoảng mùi rơm rạ
    Xa tổ quốc mười lăm ngàn cây số
    Cái tình quê gắn kết cái tình người.
    Anh đã thành danh, tôi chập chững vào đời
    Anh dày dạn tuyết sương, tôi nai vàng ngơ ngác
    Vài ba lần gặp nhau, nào có gì to tát
    Mà cái tình sâu đậm đến hôm nay…
    Ta chia tay nhau cũng hai tám năm rồi
    Thân mệt mỏi giữa chợ đời nghiệt ngã,
    Tôi sống ở đầu này, anh đầu kia-xa quá
    Cứ tưởng rằng ngày tháng đã phôi phai…
    Nào ai ngờ còn gặp gỡ hôm nay
    Khi mái tóc đã bạc màu sương gió
    Khi sự bại-thành không còn quan trọng nữa
    Cái tình người lại kết bởi tình thơ.
    Trọn một tuần ta sống tựa trong mơ
    Bình Dương,Sài Gòn, Blao, Đà Lạt
    Cảnh đẹp, rượu ngon, tình người bát ngát
    Đâu dễ gì có được phải không anh.
    Xứ sở Hoa Hồng đẹp như bức tranh
    Vẫn thắm mãi trong ta từ thủa ấy
    Chúng ta quen nhau cũng từ nơi đấy
    Bốn mươi năm và suốt cuộc hành trình.
    Con tàu nào cũng có những khúc quanh
    Tấm vé trời cấp vẫn chưa hết hạn,
    Nào nâng chén đi anh, bình chưa cạn
    Dẫu có say cũng men ấy-Tình Người.
    Xuân Lộc
    Đà Lạt, 1-4-2015

    Reply

  3. Lại Văn Ủng
    Dec 12, 2014 @ 09:43:27

    Bác Cúc chăm chỉ xuống khu ký túc xá sinh viên trường Y ở Lozenetx nên “khả năng tiếng tiến bộ vượt bậc được như thế”

    Reply

  4. Lhs Bulgaria
    Dec 11, 2014 @ 14:03:33

    Một số phản hồi từ fb

    Kiều Lan Trần @ Ơ, chuyện bây giờ mới kể ….lắm kẻ xé rào nhỉ !
    Một khởi đầu đầy khí thế và ok . Tiếp tục đi !
    Bọn tôi , học hóa thực phẩm nên trư những năm đầu phải đi lao động dịp hè để đóng góp cho đất nước ( như kiểu hè năm tiếng đi lao động XHCN, thu hoạch khoai tây ) Sau năm thứ I,II cũng vẫn phải đi lao động , từ năm ba ĐH , tranh thủ khi đi thực tập ở nhà máy chế biến thực phẩm ,bọn tôi xin làm luôn ở đó ( nhà máy thực phẩm hè vốn nhiều việc mà !).
    Cũng kiếm thêm được chút đỉnh .
    Ông kể còn thiếu : ngoài những người khỏe mạnh ( đủ kg ) thì cũng có một số bạn loại còi cọc ( như Tân Hồng ) thì khi chúng ta đi lao động , các bạn đó lại được đi an dưỡng ở Biển đen hay suối nước nóng theo tiêu chuẩn ưu đãi miễn phí giành cho sinh viên quốc tế !

    Hùng Vũ Quang @ Sửa lại đi Cúc nhé. Lấy tiền đi tầu hỏa thôi chứ làm gì có may bay mà mua vé.
    Chuyện bố mẹ gửi tiền Đô thời đấy không có đâu Cúc ạ. Lúc đó lấy đâu ra mà mọi người ở VN còn không biết mặt mủi tờ đô thế nào đâu.

    Khả Cúc Vương @ Cảm ơn mọi người, đặc biệt là Hùng Vu Quang và Kiều Lan Tran. Tôi đã up lên 2 phần tiếp theo nữa rồi. Mọi người đọc và góp ý nhé.

    Vũ Minh Đức @ Các yêu cầu khắt khe sau này đã giảm. Từ năm 74 chỉ cấm yêu người nước ngoài thôi anh Cúc à.

    Bâng Ninh @ Nhìn ảnh nhớ Điago. Điago rât quy bọn minh, rat thich hỏi chuyen ve Vietnam va ve DCS VN.

    Khả Cuc Vương @ Đúng thế Bang Ninh a.

    Kieu Lan Tran @ Đọc bài bạn , trong đầu tôi hoàn thiện quy trình khép kín sx trái cây xk của Bul . Tôi đi thực tập o các kho lạnh nhà máy CBTP . Làm mấy chỗ này , ăn trái cây chất lượng cao đã đời luôn !
    Bọn tui có một lần được giao làm cỏ nho . Mỗi người một luống , xếp hàng ngang tiến …3 ngày chưa xong một luống ! Oải ( vì luống nho dài tít tắp , vắt qua mấy ngọn đồi !)

    Khả Cúc Vương @ Bạn thấy tôi tả cánh đồng nho có đúng như bạn đã thấy không? Đã hơn 40 năm rồi Kieu Lan Trần nhỉ?

    Kiểu Lan Trần @ Luống nho tui cuốc ko làm dàn trên đầu mà trồng theo luống dọc và căng dây cho nho leo lên , như mấy luống nho ở pháp , hà lan …vì nếu làm dàn trên đầu như kiểu nho o VN ko cơ giới hoá khâu chăm sóc được vì vướng chiều cao !

    Bang Ninh @ Này moi nguoi oi, hồi ấy minh cung có đi lam hè đáy. Bi h moi noi ra vi bị cấm mà. Làm ở ngoai ô Xophia. Cung la xép hoa quả XKhau. Kỉ mien hay ra phet. Biet the rủ Kyk đi cung nhi!! Hihi

    Vu On @ Giống tớ đc Botev đưa về nhà chơi 10 ngày, bố Botev làm chủ nhiệm nông trang gọi la TDK thì phải) Suốt ngày ông ấy đưa đi thăm đồng, Mẹ Botev làm công đoàn n/m dệt nói mình tới thăm, họ nhiệt tình mang hoa đón,dẫn đi thăm nhà máy, lúc về còn tặng bao đồ dệt kim nữa. Đúng là người Bun tốt thật, nhiều ấn tượng mãi không bao giờ quên.

    Khả Cúc Vương @ Đúng thế đấy Vu On ạ. Tơ viết những câu chuyện này một phần là cũng để tri ân những con người ấy đấy.

    Бутылка- В-море @ Phải công nhận đi học ở Đông Âu sướng thật. Thời đó bên LX là kỷ luật ngay, với 1 cô đã chết. Đây lại 2. Mà với cô càng xinh tội lại càng nặng. Bác này lại kính dâm quần ống loe kiểu Beatle nữa, chết thật. Ở LX như thế là bị kỷ luật rồ.

    – Bọn tôi đi lao động hè ở Odesa. Người mình có từ ” làm ăn ” nghĩa là có thực mới vực được Đạo. Bọn tôi làm theo điều đó triệt để
    – Nghĩa là hôm nay đi hái nho đồng nghĩa với việc ăn nho. Hôm sau ăn lê, táo, dưa hấu …. Hôm nào nhặt khoai tây hay bẻ Ngô thì phải thêm củi lửa. Nói chung là đổi món
    – Cũng có lần bọn này đi nhặt hành tỏi. Đứa nào đứa ấy mặt buồn rười rượi như mất người yêu.

    Reply

  5. Lhs Bulgaria
    Dec 11, 2014 @ 14:01:28

    Đây là tự truyện của anh Vương Khả Cúc, Lhs Bun khóa 1969-1975 viết trên fb, và anh đồng ý cho đăng lên website.

    Vương Khả Cúc @ Cũng khá lâu rồi tôi không viết bài trên FB. Không hiểu hôm nay có phải là ngày lành tháng tốt không nhưng tôi muốn thông tin với những người thân quen của tôi như Ts Trung, Mõ Làng, Cần Lai, Khánh Lê, Lan Kiều Trần, Bằng Ninh….,rằng tập thơ tôi định xuất bản làm quà tặng mọi người có lẽ sẽ ra đời trong một ngày gần đây. Trong lúc tôi chờ “ đứa con đầu lòng” cất tiếng khóc chào đời thì cũng là lúc tôi “thai nghén” đứa con thứ hai: tự truyện KHÁT VỌNG SỐNG. Tốt xấu thế nào thì hãy để thiên hạ cho ý kiến. Nói ra thì thật xấu hổ, nhưng cái tính tôi không nói ra là không chịu được, đó là con người xứ Nghệ quê tôi “mắn đẻ” lắm. Đã đẻ là đẻ xồn xồn hết trứng luôn. Xong nghỉ. Câu chuyện văn chương cũng vậy, tôi đã có ý định viết cái gì thì cho dù xấu tốt, hay ho ra sao cũng cứ viết. Anh em sẽ góp ý, ta chỉnh sửa sau. Tự truyện KHÁT VỌNG SỐNG tôi dự định viết trong 2 đến 3 năm thì mới xong và sẽ được chia làm 3 tập: những năm tháng tuổi thơ, đời sinh viên và cuộc sống nghiệt ngã. Tôi viết về cuộc đời tôi. Rất thật, không có hư cấu, phô trương. Đã có một lần tôi nói với mọi người, rằng tôi sinh ra không phải dành cho văn chương và cũng chưa được đào tạo qua bất cứ một trường lớp viết văn nào cả. Nhưng tôi thấy có nhiều điều cần phải viết, nếu không viết, chết đi thì con cháu, chắt chiu… chẳng biết cuộc đời của cái ông mang danh TSKH này ra sao cả. Cứ viết, nếu có thể, phải không các bạn? Và đến nay tôi đã “thai nghén” được gần 100 trang rồi. Tôi viết không theo thứ tự từng tập mà nhớ đâu viết đó, hứng lên lúc nào là “phang” lúc ấy. Tôi đang viết một phần của tập II – ĐỜI SINH VIÊN, với tiêu đề là: MỘT THỜI ĐỂ NHỚ – NHỮNG CÂU CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI ĐƯỢC PHÉP KỂ LẠI. Trước hết tôi muốn gửi tặng những ai đã sống ở các nước XHCN Đông Âu trong những năm 60 và đầu những năm 70 của thế kỷ trước, đặc biệt là những LHS Bungari khóa 69-75, sau đó là để các thể hệ “hậu duệ” đọc để mà….cười.

    Reply

  6. Lam
    Dec 11, 2014 @ 06:05:40

    Bài viết dài nhưng lôi cuốn nên cháu cũng đã đọc xong sau khoảng gần 1 tiếng. Và cháu muốn biết đây là truyện kể thực tế hay là tiểu thuyết hư cấu ạ? Cháu cũng là du học sinh nên rất ngưỡng mộ bác, nhất là khả năng tiếp thu ngoại ngữ. Vì bác mới chỉ sang Bul được 2 năm nhưng tiếng đã khá tốt khi giao tiếp với người địa phương, dù rằng lúc đầu bác nói lên lớp nhiều lúc bác không hiểu giáo viên nói gì. Cháu muốn được biết kinh nghiêm của bác làm sao mà sau vài tháng thì khả năng tiếng tiến bộ vượt bậc được như thế?

    Reply

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Free counters!

%d bloggers like this: