Tết âm lịch ở Trung Quốc


Tết Nguyên Đán là ngày Tết quan trọng nhất của Trung Quốc, được tính theo âm lịch. Tết này tương tự như Tết Nguyên Đán của Việt Nam và nhiều nước châu Á khác. Tết này còn có tên gọi là Xuân Tiết (春节- Chūn Jié), đánh dấu sự kết thúc của mùa đông và khởi đầu mùa xuân mới. Thời điểm giao mùa này khác với cách tính của phương Tây vì nó được tính theo lịch âm. Tết được tính từ ngày đầu tiên của tháng âm lịch đầu tiên- ngày Chính (Chánh Nguyệt-正月-Zhēng Yuè) và kết thúc vào ngày tổ chức lễ hội đèn lồng rằm tháng giêng. Đêm giao thừa của Trung Quốc, ngày dành cho sum họp gia đình, được gọi là đêm Trừ Tịch (除夕- Chú Xī) với “trừ” nghĩa là thay đổi, hoán đổi và “tịch” là đêm, “trừ tịch” nghĩa là “sự kết thúc của đêm cuối năm”.

Truyền thuyết

Về nguồn gốc Tết âm lịch, trong dân gian Trung Quốc lưu truyền một chuyện thần thoại khá thú vị: Thời thượng cổ, có một quái vật tên là Niên (năm), hung mãnh phi thường. Vào mùa đông, rừng núi phủ đầy tuyết trắng, Niên khó tìm ra thức ăn nên đêm đêm xuống núi săn lùng người, súc vật khiến mọi người vô cùng sợ hãi. Nhược điểm của Niên là sợ màu đỏ, ánh lửa và tiếng vang nên mọi nhà đều chuẩn bị những tấm gỗ đào treo lên, đốt lửa trước cửa và tìm các thanh cây gõ lên tiếng vang khi Niên xuống, làm Niên kinh hoàng, bỏ chạy một mạch lên núi. Đến sáng, mọi người vui vẻ chúc tụng nhau, làm thịt gà, dê ăn mừng, gọi là mừng “qua Niên”, tức mừng đã đuổi được quái vật. Sau đó từ “qua Niên” trở thành “qua năm” hay “sang năm”.

“Qua năm” là chỉ đêm giao thừa, cái đêm vượt qua hai năm, là thời điểm giao tiếp năm cũ và năm mới. Nhưng hoạt động Tết thì có khoảng thời gian liên tục từ cuối năm cũ sang đầu năm mới. Cuối năm cũ gọi là “cửa năm”, đầu năm mới thì gọi là “năm mới”. Đó là khoảng thời gian từ 25 tháng chạp đến rằm tháng giêng (Nguyên tiêu). Bước qua ranh giới của “cửa năm” cho đến giao thừa, nhà nhà đều bận rộn chuẩn bị Tết, trong đó có việc quan trọng là tiễn đưa Táo Thần.

Ở Trung Quốc, tập tục tiễn đưa Táo Thần có từ rất sớm. Từ đời Chu (cách nay gần 3.000 năm), lễ cúng Táo Thần vào đầu tháng 4 âm lịch được xem là một trong 5 lễ cúng quan trọng trong năm, về sau Hán Tuyên Đế đổi thành mồng 8 tháng chạp, đến đời Tống đổi thành 24 tháng chạp và truyền lại đến nay. Đầu đời Tần có quan niệm Táo Thần chỉ lo việc bếp núc, nhưng từ đời Hán thì cho rằng Táo Thần là thiên thần do thượng đế phái xuống nhân gian để điều tra công và tội của con người.

Ngày 24 tháng chạp mọi nhà đều làm vệ sinh, cúng Táo Thần với nghi lễ đơn giản, người chủ nữ trong gia đình dâng thanh trà, hoa quả, đốt nến thắp nhang cầu khấn là được. Lễ tiễn Táo Thần đồng thời cũng là lễ bước vào ”cửa năm” (25 tháng chạp). Người Phúc Kiến, Giang Tây lấy ngày 25 tháng chạp làm ngày tiễn Táo Thần, có thể họ nghĩ ngày 24 có chữ “tứ” gần âm với chữ “tử” (chết) nên họ tránh, cũng có thể do ngày 25 là ngày bước vào “cửa năm”, tiễn Táo Thần có ý nghĩa hơn. Về giới tính, dân ở vùng Phúc Kiến, Giang Tây cho Táo là nữ thần, gọi Táo Quân Lão mẫu hoặc Táo Quân Thái thái. Đời Hán đã có cuộc tranh luận sôi nổi về giới tính của Táo Thần. Theo Thái Bình Ngũ Lãm trích từ Ngũ Kinh dĩ nghĩa, Trịnh Huyền cho Táo Thần là “lão phụ” (tức một người đàn bà). Theo Hứa Thận (nhà ngôn ngữ nổi tiếng đời Đông Hán) thì: “Táo Thần họ Tô tên Cát Lợi, phu nhân của Táo Thần họ Vương tên Bác Giáp”. Từ đó về sau, hình tượng Táo Thần là người đàn ông. Nhưng người vùng Ninh Hóa và một số vùng khác thì vẫn tôn thờ nữ thần, có thể do họ chịu ảnh hưởng của Trịnh Huyền hoặc cho Táo Thần chuyên lo việc bếp núc, điều tra tội nhỏ, là việc của nữ giới.

Khi đã qua “cửa năm”, người Trung Quốc không làm những việc nặng nhọc, không ăn dưa chua, không ăn cháo để tránh rủi ro, hy vọng năm mới sẽ gặp điều may mắn. Giao thừa (trừ tịch) cũng gọi là trừ nhật, trừ dạ, tuế trừ, tuế mộ, mộ trừ… (mộ là cuối). Giao thừa là đêm cuối cùng giao tiếp giữa 2 năm. Ngày 30 Tết là ngày cuối năm, người Trung Quốc làm những việc quan trọng là “thượng hồng”, dán Môn Thần (thần cửa), cúng tổ tiên, làm cơm tất niên, đón giao thừa… ”Thượng hồng” là dán câu đối Tết và dán giấy đỏ. Màu đỏ tượng trưng cho cát tường (vận may), thịnh vượng. Do vậy, ngày 30 Tết, các đồ dùng to nhỏ trong nhà (như cày bừa, giường, bàn ghế, nồi nấu cơm…) đều được dán giấy đỏ.

Dán câu đối Tết có từ thời Ngũ đại (năm 907-960). Câu đối “Tân niên nạp dư khánh, gia tiết hiệu trường xuân” của Tân Dần Tốn được xem là câu đối xuất hiện sớm nhất ở TQ và tập tục dán Thần gác cửa (Môn Thần) cũng có từ lâu đời. Về 2 chữ “Môn Thần”, trong Lệ ký- Táng phục đại ký, Trịnh Huyền có ghi: ”Theo truyền thuyết, thời Hoàng đế, Thần Đồ và Uất Lũy có tài bắt được ma quỷ, do đó người ta vẽ hình của hai vị thần này dán hai bên cửa để ngăn cản hung quỷ”.

Có một truyền thuyết khác:  Ở đời Đường, hai vị tướng tài Tần Thúc Bảo và Uất Trì Kính Đức đã lập nhiều công trạng. Có một lần Đường Thái Tông Lý Thế Dân tinh thần bấn loạn, đêm nằm nghe tiếng kêu của ma quỷ và tiếng ném gạch ngói bên ngoài cung điện. Việc này làm cho hoàng cung trở nên bất ổn, vua lo sợ đưa việc này nói với quần thần. Nghe xong, Tần Thúc Bảo liền tâu với vua xin được cùng tướng quân Uất Trì Kính Đức đưa quân ra canh gác trước cung môn để đuổi ma quỷ, được vua chuẩn tấu.

Hai vị tướng đưa quân canh gác suốt đêm, quả nhiên mọi việc bình an vô sự. Sau đó, để hai vị tướng đỡ phần vất vả, người ta vẽ hình họ dán hai bên cung môn, nhìn sinh động như người thật, thế là ma quỷ bị đuổi sạch, không còn dấu vết. Từ đó về sau, hai vị tướng này được tôn là Môn Thần. Đến đời Minh, Môn Thần còn có thêm Thần Tài.

Cúng Thần Thổ Địa cũng là một việc hệ trọng. Thần Thổ Địa còn được gọi Xã quan tục gọi Xã Công. Các gia đình Trung Quốc đều rất sùng bái Thần Thổ Địa. Theo Lễ ký Giao đặc tư thì Thần Thổ Địa là chủ đất đai, chủ loài cây tắc (chúa của các loại cốc) và ngũ cốc… Các huyện, thành đều xây miếu thờ Thần Thổ Địa; ở xã có xã đàn; các thôn có khám thờ thường đặt ở cửa thôn. Trong dân gian, mọi người đều cho Thần Thổ Địa là vị thần hiền từ, hãy giúp người, bảo hộ hương thổ. Trong năm, ngoài việc cúng Thần Thổ Địa vào mùa Xuân và mùa thu, mọi nhà khi có dịp hỷ khánh đều hiếu kính Thần Thổ Địa. Khi làm thịt lợn, họ cắt một miếng thịt thủ và cái đuôi lợn luộc chín cùng hoa giấy đưa đến xã đàn dâng lên Thần Thổ Địa cầu khấn cho lục súc (lợn, câu, dê, ngựa, gà, chó) được khỏe, lớn nhanh và sinh sôi nảy nở. Tết đến càng không thể quên Thần Thổ Địa. Theo tập tục thì 30 Tết nhà nào cũng làm thịt gà, thịt vịt. Họ thường đến làm thịt gà ở trước xã đàn (dĩ nhiên địa phương có quy định giữ vệ sinh trật tự chung). Khi gà đã luộc chín thì dâng lên cúng Thần Thổ Địa. Do vậy, mỗi năm đến 30 Tết, xã đàn hương khói nghi ngút, mọi nhà, mọi người đều đến tạ ơn Thần Thổ Địa.

Cúng tổ tiên là việc hệ trọng trong ngày Tết. Người TQ cúng tổ tiên thường dâng “tam sinh”, tức thịt gà, thịt lợn và cá; hai món đầu nhất thiết phải có và luộc chín; ngoài ra còn bánh tét, đậu hũ, hoa quả… Mỗi loại thực phẩm đều dán giấy đỏ. Sau khi thắp nến, đốt nhang, phải quỳ lạy, cầu khấn.

Đón giao thừa, người Trung Quốc thắp 3 ngọn đèn bằng loại dầu đặc biệt gọi là “điểm tuế hỏa”, một đặt ở nhà thờ chung, một ở cửa gọi là “thiên đăng” và một ở bàn thờ Táo Thần; những ngọn đèn này cũng gọi là “quang niên”, biểu thị sự sáng sủa trong năm.

Sang năm mới chủ yếu là vui chơi, nhưng ngày 3 tháng giêng là ngày “Tống quỷ đói”, Theo truyền thuyết, xưa có hai vợ chồng vì quá nghèo đói nên người vợ phải làm nàng hầu cho một người đàn ông giàu có. Người vợ (họ Lý) thường lén chu cấp tiền cho chồng. Một dịp trước Tết, Lý cho chồng một chiếc bánh có nhồi mấy lạng bạc, nhưng quên nói với chồng. Anh chồng trở về nhà phải qua đò không có tiền trả bèn đưa chiếc bánh kho anh lái đò. Về đến nhà không có tiền ăn Tết, anh lại đến xin vợ. Sau khi nghe chồng kể lể sự tình, Lý nói trong bánh có bạc và tức giận mắng chồng: “Đồ quỷ đói đáng chết”. Sợ bị lộ Lý liền tạm rời khỏi nhà, ngờ đâu lúc đó anh chồng cũng trốn vào đống củi của nhà giàu và sau một đêm thì chết vì đói rét. Để tránh tai tiếng, ngày mồng 3 Tết, Lý đốt đống củi và đổ tro xuống sông. Mọi người hỏi, Lý nói: “Tống quỷ đói”. Từ đó, ngày 3 tháng giêng nhà nhà đều dọn vệ sinh, tống rác rưởi trong nhà ra ngoài, đốt nhang đốt giấy, ý nói: “Nghèo đi giàu đến”!

Ngày 5 tháng giêng mọi nhà đều đón Táo Thần giáng thế. Nhang khói vẫn duy trì liên tục từ giao thừa cho đến ngày đó và cúng Táo Thần từ sáng sớm, xong gỡ các loại giấy treo ngoài cửa đem đốt. Hết Tết, nhưng vui chơi, thăm bè bạn thì vẫn tiếp tục cho đến ngày rằm tháng giêng. Người Trng Quốc có câu tục ngữ: “Uống xong ly rượu Nguyên tiêu là lúc khởi đầu bắt tay vào công việc”.

Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ đời Tam Hoàng Ngũ Đế và thay đổi theo từng thời kỳ. Đời Tam Vương, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Các vua chúa nói trên quan niệm về ngày giờ “tạo thiên lập địa” như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày tết khác nhau.

Đời nhà Đông Chu, Khổng Phu Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Cho đến khi nhà Hán, Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, trải qua bao nhiêu thời đại, không còn nhà vua nào thay đổi về tháng Tết nữa.

Đến đời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày tạo thiên lập địa có thêm giống Gà, ngày thứ hai có thêm Chó, ngày thứ ba có Lợn, ngày thứ tư sinh Dê, ngày thứ năm sinh Trâu, ngày thứ sáu sinh Ngựa, ngày thứ bảy sinh loài Người và ngày thứ tám mới sinh ra ngũ cốc. Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mồng Một cho đến hết ngày mồng Bảy tháng giêng (8 ngày).

Ngoài ra, người ta thường nói “20 Tết”, “15 Tết”… đây chỉ là nói những ngày ảnh hưởng do những công việc để chuẩn bị đón Tết hay dư âm còn lại của những ngày Tết.

Tết Nguyên Đán là ngày tết âm lịch dài nhất và quan trọng nhất ở Trung Quốc. Nguồn gốc của ngày tết này có từ xa xưa với rất nhiều truyền thuyết và tập tục liên quan, phản ánh niềm tin và cách sống của con người thời cổ xưa.

Ngày nay, cùng với người Hoa, người Việt, các dân tộc khác chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa như Triều Tiên, Mông Cổ, Tây Tạng, Nepal, Bhutan, H’mông Trung Quốc cũng tổ chức Tết âm lịch và nghỉ lễ chính thức. Tết này được tổ chức trong cộng đồng người Hoa trên khắp thế giới. Mỹ, Canada và Úc có xuất bản bộ sưu tập tem hàng năm nhân dịp Tết Trung Quốc.

Китайците се готвят за лунната нова година

На 23 януари китайците ще посрещнат нова година по лунния календар – един от най-големите празници в страната.

На 23 януари китайците ще посрещнат Годината на дракона – огнено животно, което не търпи унижение и насмешка. От друга страна пък драконът е щастлив символ, а родените през неговата година се радват на много успехи.

Все пак не е препоръчително да се шегувате със съдбата и да не рискувате през тази година.

Новата година по лунния календар се празнува пищно в Китай. Домовете се украсяват със стихове, изписани върху червена хартия. Празникът се посреща с много фойерверки и макети на животните, символ на предстоящата година.

Подготовката за празника в азиатската държава вече започна и милиони китайци вече украсяват домовете и улиците си за празника. В галерията можете да видите най-интересните образци на тази традиция.

Легендата за китайската нова год

Преди много много години никой не празнувал нова година, никой не знае каква била причината за това. Може би защото тогава земята била обитавана от дракони. Те били навсякъде – из планините и долините, в моретата и океаните. Но хората били свикнали с тях и всички живеели мирно и щастливо, без да си пречат един на друг. Но не щеш ли един ден, един човек направил непоправима грешка – убил дракон. Това било най-ужасното нещо, което можело да се случи на хората. Всички знаели, че ако смъртта застигне това мощно същество, неговия ужасяващ дух ще броди не спокойно по земята.

Но злото се случило и никой не можел да го поправи. Селото вече било прокълнато. Един ден по улиците му се появил ужасяващия дух на огнедишащото същество. Той тръскал тежката си глава, пулел огромните си очи и крещял с пълна сила, че е гладен и иска да яде. Хората се изплашили и веднага се изпокрили зад дървените врати на къщурките си. Но това не било толкова страшно, колкото думите, които изрекъл, когато огладнял зверски. Драконът поискал да изяде най-младия жител на селото.

Когато изрекъл тези думи къщите сякаш били залети с тишина. После ревът на ужасените селяни заглушил този на гладния дракон. Те не можели да допуснат такава жестокост. Тяхната надежда и тяхното бъдеща – да бъдат унищожено от един дух. От призрак, който дири спокойствие след злощастната смърт на плътската си обвивка. Но каквото и да си мислели хората, драконът бил гладен. Надул гърдите си и в следващия момент огнен ад излязъл от устата и ноздрите му. Пепел се изсипала над ужасените селяни. Въздухът станал горещ като въглен. Дробовете им изгаряли и те не можели да дишат. Духът на дракона разперил парцаливите си криле и изревал през огнения вихър излизащ от гърлото му, че ако не получи това, което иска ще изгори цялото село и ще погълне всички негови жители.

Изплашили се селяните. Разбрали, че колкото и да се молят, колкото и да падат на колене, няма да намерят спасение за всички си. Никой не искал повече огнения ад да прониква през прозорците на къщата му. Затова един по един те свели глави и разбрали, че за тях е настъпил най-тежкия момент. Те решили да приемат условията на ужасното чудовище. Жените започнали да плачат, бабите и дядовците не искали да повярват на очите и ушите си. Те трябвало всяка година да се разделят с един от тях, за да избавят себе си от ужаса на огнедишащия дух.

От този ден нататък драконът идвал всяка година и изнудвал нещастните хора. Само някой да кажел и дума, начаса той изгарял къщата на нещастника, но предварително гледал вътре да няма никой, защото във всяко едно семейство той виждал възможност следващата година да получи жестокия си данък.

Ето че една година дошъл ред на младата Уан. Всъщност тя не била толкова млада, красивата жена имала пет годишен син, но съдбата я била наказала, като отнела съпруга й. Той бил един от най-смелите рибари в селото, но в една бурна вечер той не се върнал с лодката си. Оттогава всички наричал младата жена – вдовицата Уан. Тази година било неин ред да се раздели с детето си. Всички селяни видели решителен пламък да блесва в очите й и изпаднали в ужас. Те знаели, че тази смела жена няма да се предаде и на тях може би ще се наложи да се докоснат до огъня на ужасния дракон.

Уан не мигвала ден и нощ. Сънувала кошмари – кръв, огньове, шум и червени пламъци, а до нея кротко спяло детето й, което толкова приличало на баща си. Когато жената се събудила след тежко прекараната нощ тя сглобила всичко, което сънувала и разбрала как ще спаси рожбата си. Подготвила множество бамбукови фойерверки, бял плат и остър нож. Шумът на взривовете и платът напоен със собствената й кръв щели да прогонят чудовището.

Когато нощта настъпила тя окачила стотиците фойерверки около дома си, разрязала краката и ръцете си и напоила целял плат. Захвърлила го пред вратата и зачакала… Отдолу по улицата се задал гладния дух, но когато съзрял кръвта на майката, обагрила плата и чул дивия шум на взривовете той побягна и повече не се завърнал. От тогава насам по това време на годината всички в Китай се прекланят пред червения цвят и взривяват колкото си може фойерверки, за да прогонят злите дракони с шум и кръв…

Интересни факти за китайската нова година

КИТАЙСКАТА НОВА ГОДИНА (ЧУН ДЗИЕ) Е НАЙ-ДЪЛГИЯТ И НАЙ-ВАЖНИЯТ ПРАЗНИК В КИТАЙСКИЯ КАЛЕНДАР. НОВОГОДИШНИТЕ ПРАЗНЕНСТВА ТРАДИЦИОННО ЗАПОЧВАТ НА ПЪРВИЯ ДЕН ОТ МЕСЕЦА И ПРОДЪЛЖАВАТ ДО ПЕТНАДЕСЕТИЯ, КОГАТО ЛУНАТА Е НАЙ-ЯРКА.

– По време на празненствата Чун Дзие китайците обличат червени дрехи и украсяват домовете си със стихове, изписани върху червена хартия. На децата се дават “щастливи пари”, в червени пликове. Червеният цвят символизира огъня, който според китайските вярвания прогонва лошия късмет. Фойерверките по случай Чун Дзие се подготвят в съответствие с древните обичаи. Преди много години китайците палели бамбукови пръчки, защото вярвали, че пращящите пламъци плашат и прогонват злите духове.

– В китайския зодиак има 12 знака, сред които свиня, плъх, вол и змия, и няколко версии как е започнала традицията. Според една от версиите древен китайски император е организирал надпревара, за да реши кое животно заслужава честта да бъде първо в зодиака. Спечелил плъхът, след като се качил на главата на вола и скочил пред него на финалната линия.

– Китайските градове ехтят от какофония на фишеци и фойерверки по време на фестивала в опит да прогонят злите духове и да привлекат бога на благополучието пред хорските врати. Майките, бащите, бабите и дядовците дават на децата червени пликове, пълни с пари, като понякога ги скриват под възглавниците им в навечерието на Китайската Нова година. Предназначението на тези подаръци е да пазят от зло и лош късмет.

– Изобилие на табута. Хората избягват да плачат в новогодишния ден, защото вярват, че ще им върви на сълзи през цялата година. Миенето на косата означава измиване на добрия късмет. Избягва се думата за цифрата „четири“, тъй като звучи като думата „смърт“. Китайците смятат, че ако използват ножове или ножици, могат да „прережат“ щастието. Децата се предупреждават да не използват лоши думи, за да не ги сполети лош късмет през предстоящата година. Къщите се почистват основно преди празника, за да се изхвърли всичко старо и лошо от отиващата си година и да се посрещне новата на чисто. В самия новогодишен ден обаче не трябва да се чисти, за да не се разпилява добрият късмет през предстоящата година.

– Китайците хапват разнообразни традиционни храни. В Северен Китай са особено популярни кнедлите. Те символизират благосъстоянието, тъй като формата им напомня старовремските златни и сребърни кюлчета. Рибата също е традиционна храна за празника, тъй като думата се произнася по същия начин като думата „изобилие“.

– Последната вечер на декември по китайския лунен календар се нарича Чуси. Чу означава ликвидаране, Си е вечер. Чуси представлява изпращането на последната вечер на годината, и посрещане на Новата година. В страната Чуси има и други наименования – “Чуйе”, “Ниенйе” и “Ниенсанши”.

– В Китай има различни обичаи за навечерието на Нова година (Чуси). Ритуалното почистване на къщите съществува отдавна. Няколко дена преди Чуси, хората почистват къщите, което означава прогонване на старото и получаване на новото.

– След почистване на къщите хората залепват специални двойки стихове на вратите и окачват фенери, за да създадат празнична атмосфера. По време на Чуси, хората пият напитката “Тусу”, смес от вино или вода. Хората вярват, че “Тусу” може да прогони болестите и бедствията. Според медицински данни “Тусу” представлява комбинация от 7 лекарствени билки.

– Според китайската традиция, вечерта на Чуси всички членове на семейството трябва да се съберат заедно около богатата трапеза.

– На различни места в страната обичаят за трапезата е различен. В Южен Китай има над десетина ястия, сред тях е необходимо да има соево сирене и риба, защото на китайски произнасянето им е еднакво с богатството. В Северен Китай пелмените са главното ястие на трапезата на Чуси. Хората заедно приготвят пелмени, които символизират събирането.

– Навечерието на Чуси родителите с децата отиват при роднините си, да им дадат подаръци, или да ги поканят на гости, за да ядат “Ниенйефан” заедно. След вечеря, обикновено възрастните дават пари на децата, които не работят. Парите се казват “Ясуейчиан”. Хората гледат телевизия, играят карти, чак до идването на Новата година, което се нарича “Шоусуей” – запазване на годината.

– Запазването на годината е най-популярната традиция на Чуси. Децата са най-радостни, защото те могат да играят до зори и да посрещнат идването на Новата година.

– Във Виетнам вместо Годината на Заека се отбелязва годината на Котката. Не е ясно кога точно Виетнам изоставя Заека и възприема Котката за своята версия на заимствания от Китай зодиак. Смята се, че това се дължи на грешка при превода. В Китай Заекът е смятан за един от най-щастливите знаци. Във Виетнам на зайците се гледа като на храна. Котките в някои случаи също присъстват в менюто като „малки тигри“, въпреки че практиката да се консумират технически е забранена. За повечето хора котките са чисти, общителни и умни компаньони, а Годината на Котките носи надеждата за хармония. Котката освен това се използва като контраст на кучето – своя вечен враг, което също фигурира в сред зодиакалните знаци. Присъствието на двете животни се възприема като баланс на ин и ян в космоса и обединяване на противоречията.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Free counters!

%d bloggers like this: