Nicola Vaptsarov


Nicola Vaptsarov sinh ngày 07 tháng 12 năm 1909 tại Bansko. Lớn lên trong một gia đình giàu có ở trung tâm thành phố. Cha ông Ionko là một nhà chính trị phiêu lưu và nổi loạn. Nhà của họ ở Bansko là nơi cư trú của các nhân vật hoàng gia (vua Ferdinand, Kaiser Wilhelm, Sa hoàng Boris III) và những nhà trí thức nổi tiếng như nhà thơ Yavorov và Bagryana, họa sĩ K. Shtarkelov, Ivan Penkov và nhiều người khác trong nửa đầu thế kỷ XX.

Ông tốt nghiệp trường Đại học Hàng Hải (MMU) Varna (1926-1932), ngôi trường sau này mang tên ông.

N. Vaptsarov bị kết án tử hình vì hành động khủng bố vào ngày 23/7/1942 và thi hành án cùng ngày tại trường bắn Sofia.

Những bài thơ cuối cùng của ông là “Bài thơ vĩnh biệt” và “Trước cái chết” được làm ngay sau khi nghe đọc tuyên án tử hình – lúc 14 giờ ngày 23 tháng Bảy năm 1942. Người đã cất giữ mẩu giấy thiêng liêng và gửi nó đi sau cuộc hành hình là đội trưởng trường bắn Dimitar Radev.

Прощално – Bài thơ vĩnh biệt

Никола Вапцаров – трагиката на идеалиста

От враговете – кур­шум в гла­ва­та, от друга­ри­те­ – изобилие от “броне­бойни патрони”

Никола Вапцаров е роден на 7 декември 1909 г. в град Банско. Израсъл в богат­ска къща в цен­търа на града. Баща му Йонко е авантю­рист, по­ли­тикан и комита. Къщата им в Бан­ско е била местната резиденция на царствени особи (цар Фердинанд, кайзер Вилхелм, цар Борис ІІІ) и видни интелектуалци като по­­­­­етите Яворов и Багряна, художниците К. Щъркелов, Иван Пенков и много други от първата половина на ХХ век.

Завършва висше техническо образование в Морското машинно училище (ММУ) във Варна (1926-1932 г.), по-късно наречено на негово име.

Никола Вапцаров е осъден на смърт за терористична дейност на 23 юли 1942 година по дело 585/1942 срещу членове и сътрудници на ЦК на БКП и разстрелян същия ден на гарнизонното стрелбище на Школата за запасни офицери в София.

Последните си сти­хове “Про­щал­но” и “Пред­смъртно” Вапцаров запи­сва на листче след про­­из­насяне на смъртната при­съда – в 14 часа на 23 юли 1942 г. Този, който съхранява сакралното листче и го предава след разстрела, е капитан Ди­ми­тър Радев, ко­мендант на Гар­ни­­зон­ното стрелбище.

Вяра

Ето – аз дишам,
работя,
живея
и стихове пиша
(тъй както умея).
С живота под вежди
се гледаме строго
и боря се с него,
доколкото мога.
С живота сме в разпра,
но ти не разбирай,
че мразя живота.
Напротив, напротив! –
Дори да умирам,
живота със грубите
лапи челични
аз пак ще обичам!
Аз пак ще обичам!
Да кажем, сега ми окачат
въжето
и питат:
“Как, искаш ли час да живееш?”
Веднага ще кресна:
“Свалете!
Свалете!
По-скоро свалете
въжето, злодеи!”
За него – Живота –
направил бих всичко. –
Летял бих
със пробна машина в небето,
бих влезнал във взривна
ракета, самичък,
бих търсил
в простора
далечна
планета.
Но все пак ще чувствам
приятния гъдел,
да гледам как
горе
небето синее.
Все пак ще чувствам
приятния гъдел,
че още живея,
че още ще бъда.
Но ето, да кажем,
вий вземете, колко? –
пшеничено зърно
от моята вера,
бих ревнал тогава,
бих ревнал от болка
като ранена
в сърцето пантера.
Какво ще остане
от мене тогава? –
Миг след грабежа
ще бъда разнищен.
И още по-ясно,
и още по-право –
миг след грабежа
ще бъда аз нищо.
Може би искате
да я сразите
моята вяра
във дните честити,
моята вяра,
че утре ще бъде
живота по-хубав,
живота по-мъдър?
А как ще щурмувате, моля?
С куршуми?
Не! Неуместно!
Ресто! – Не струва! –
Тя е бронирана
здраво в гърдите
и бронебойни патрони
за нея
няма открити!
Няма открити!

Niềm tin

Đây – tôi thở
Tôi làm việc
Tôi sống
Và tôi làm thơ
(Theo kiểu riêng tôi)
Cuộc sống và tôi
Hai bên đều cau mày
Đọ mắt nhìn nhau
Và tôi đấu tranh với cuộc sống
Đến mấy cũng không vừa
Chúng ta đấu tranh với cuộc sống
Nhưng chớ tin, chớ tin rằng
Tôi ghét cay cuộc sống
Trái lại, trái hẳn lại
Dù tôi có sắp chết
Cuộc sống
Với nắm đấm thép ác nghiệt của nó
Tôi vẫn yêu nó
Tôi vẫn yêu nó
Nếu ngay bây giờ người ta vắt qua đầu tôi
Một sợi dây thừng
Và hỏi tôi
“Mày muốn sống một giờ nữa hay không?”
Tức thì tôi kêu:
“Nhấc lên
Nhấc lên
Nhấc nhanh dây thừng lên
Hỡi những tên đạo tặc!”
Vì nó – Cuộc sống
Tôi làm tất
Tôi bay
Trên chiếc máy bay thử vào trời xa
Tôi đi một mình
Trên một hoả tiễn
Trong vũ trụ không gian
Tôi tìm một hành tinh
Không với được
Ít nhất tôi có một xúc cảm dễ chịu
Thấy
Trên kia
Trời xanh thắm thế nào
Ít nhất
Tôi có một cảm xúc dễ chịu
Thấy còn sống
Thấy còn được sống nữa
Giả dụ
Anh lấy mất của tôi – Bao nhiêu?
Chỉ một hạt nhỏ
Niềm tin
Tôi sẽ thét gào
Sẽ thét gào đau đớn
Như con báo
Bị tử thương
Lúc ấy tôi còn gì nữa nhỉ?
Sau vụ cướp ấy
Tôi hết đường xoay trở
Và rõ ràng hơn
Và đúng hơn
Là sau vụ cướp ấy
Tôi sẽ không còn là gì nữa
Có thể anh muốn
Giẫm đạp niềm tin của tôi
Trong những ngày vui sướng
Niềm tin vào mai sau
Nó làm cho cuộc sống đẹp hơn
Khôn ngoan hơn nữa?
Anh tấn công nó thế nào
Xin anh cho biết?
Với những viên đạn?
Không! Trật rồi!
Chẳng cần! Chẳng đáng giá gì!
Niềm tin được bọc thép
Rắn chắc trong ngực tôi
Và những viên đạn đục thủng được
Bộ thiết giáp của nó
Chưa được phát minh đâu!
Chưa được phát minh đâu!
Người dịch: Nguyễn Xuân Sanh

***

Химн

Огромен град със звезден покрив
и електрически слънца,
открил вратите си широко
за хилядите си деца.
Във теб гори, във теб се ражда
стремежа на един народ.
И в всеки камък, в всяка сграда
възхожда бодро нов живот.
Ти сбираш хиляди копнежи
в бетоненото си сърце;
съгрей ги, приласкай ги нежно,
обвий ги с своите ръце!
Пулсирай и напирай здраво
потискащите брегове!
Във всяка длан трепти корава,
желязна воля за прогрес.
Огромен град, бетонен град,
с едно бетонено сърце!
Като живота – вечно млад,
с протегнати напред ръце.
1937

Anh hùng ca

Thành phố rộng với mái đầy sao
Và đầy mặt trời điện tử
Cửa thành phố mở thoáng xiết bao
Đón trăm nghìn đứa con yêu quý
Trong ngươi cháy bừng, trong ngươi sinh nở
Nguồn cảm hứng của nhân dân
Và trên mỗi ngôi nhà, mỗi viên đá
Toả lên một cuộc sống mới dần
Ngươi tụ tập muôn ngàn ước vọng
Trong trái tim cốt thép của mình
Ve vuốt chúng và đun nóng chúng
Dịu dàng ôm chúng trong tay
Hãy nện búa mạnh vào
Và vỗ sâu những hàng đanh tán
Trong mỗi lòng bàn tay lấp lánh
Chí tiến bộ thép của cần lao
Thành phố mênh mông, thành phố cốt sắt
Với một trái tim kim cương
Như cuộc đời – mãi mãi thanh xuân
Với những bàn tay mở về phía trước
Người dịch: Nguyễn Xuân Sanh

***

Хайдушка

Вятър мята листи пожълтели,
до три лета не сме били в къщи.
Булките се мислят овдовели –
гледат Пирин, пръстите си кършат.
Не додея ли ни път във тъмно,
скръб за рожби ли не ни повея.
Да намериш камен да осъмнеш,
камен-зглаве, търне за постеля.
– В къщите протекоха стрехите –
бурен нивите души, войводо.
“Стреляй горе, стреляй към звездите!
Нека паднем честни и свободни.”

Bài ca người du kích

Cơn gió thả lá vàng rơi
Đã ba mùa hạ họ rời làng quê
Vợ yêu đứng đợi bên hè
Nắn ngón tay trỏ, nhìn về Pirin
Phải đâu quên mất đường tìm
Phải đâu không xót nỗi niềm xa con
Ta chọn cỏ gai làm giường
Chọn hòn đá rắn đêm trường nghỉ ngơi
Nước mái hiên, ngày đêm rơi
Cỏ dại cắn đất tơi bời, bạn ơi!
“Bắn lên sao, bắn lên trời
Đã hiện trên đất những người tự do”
Người dịch: Nguyễn Xuân Sanh

***

Любовна

Като бетонен блок над нас
тежи барутната тревога.
Душите ни ръмжат: – Война!
В душите кръв, и смут и огън.
Аз виждам тоя смут дори
сега в фабричните комини,
на запад в залеза или
в небето тъй спокойно синьо.
И в тези дни, кажи ми ти,
когато ни притягат в обръч,
в сърцето, грях ли е, кажи,
че пазя още кът за обич?
Кажи ми грях ли е, че пак,
дори и в този шум фабричен,
процепен с зъл картечен грак,
си мисля: – Колко я обичам!…
Да, вярно, мъничкият свет
на нашата любов е тесен,
затуй със поглед, впит напред,
ти пиша толкоз малка песен.

Bài hát tình yêu

Như một khối xi măng trĩu bẹp người
Đè nặng lên ta cuộc báo động đầy bụi khói
Tâm hồn ta thét to: Chiến tranh dữ dội
Trong mọi tâm hồn: sự xáo trộn, lửa, và máu trôi
Bây giờ tôi thấy sự xáo trộn
Ngay trên các ống khói lò cao
Phía tây nơi mặt trời vừa trốn
Ở đó bầu trời xanh dạt dào
Hãy trả lời tôi đi, trong những ngày này
Khi chúng ta bị giữ trong một vòng vây
Trong lòng ta, phải chăng là tội lỗi
Khi tôi dành một góc cho mối tình sôi nổi?
Trả lời tôi đi, phải chăng tội lỗi
Khi trong nhà máy đầy tiếng ồn
Súng trung liên nhả đạn huyên thiên
Tôi nghĩ: “Tôi yêu nàng quá đỗi!…”
Vâng, đúng vậy, thế giới không to
Của tình yêu vô cùng nhỏ hẹp
Với con mắt nhìn về phía xa
Anh viết cho em một bài hát đẹp.
Người dịch: Nguyễn Xuân Sanh

ЩЕ БЪДА СТАР, ЩЕ БЪДА МНОГО СТАР…

Ще бъда стар, ще бъда много стар,
ако остана след погромите, разбира се,
като окъсан рибен буквар
модел хиляда осемстотин и четирийсе.

Тъй както малките деца разлистват
и почват със картинките от края,
така и мене днеска ми се иска
за бъдещето да си помечтая.

Защо пък не? – В мечтите няма цензура,
мечтите греят с синкава прозрачност.
А по-добре е да подгониш вятъра,
отколкото да седнеш и да плачеш.

Тогава аз ще имам син,
синът ще бъде двадесетгодишен…

Никола Вапцаров

***

Рибарски живот

Ти виждаш:
издути платна,
луна на небето излезла,
и мислиш:
живот е това,
живот преизпълнен
с  п о е з и я.

Отгоре –
изгряват звезди.
Небето –
седефено свети.
От сушата
кроткият бриз
с ръката си
къдри
морето.

Ех,
волен рибарски живот,
описан
във толкова песни!
На мачтата – бяло платно …
Така да описваш
е лесно. –
Турни му “безкрайно море”,
залей го излеко
с синило
и всичко излиза добре –
картинно
и мило.

А туй,
че със вълчи зъби
студеният вятър ни хапе
и като тежки
сачми
те бият смразените капки?

Прогизнал
се връщаш дома
от влага.
А лодката зее.
И в кърмовия долап
две риби
във мрака сребреят.

Христос да би слязъл
сега
с две риби
какво ще направи?
От мъка –
очите горят,
гърдите –
омраза задавя.

На покрива
в рядката тръст
дъждът се полека оцежда.
Заспиваш.
И после в съня
изгрява далечна надежда …

Ех,
черен човешки живот!
Рибарски живот! –
н е и з в е с т н о с т.
Не мож го разправи,
а то –
иди, че реди го на песен …

Đời sống dân chài

(Người dịch: Nguyễn Xuân Sanh)

Bạn xem:
Buồm no gió
Trăng ló trời xa
Và bạn nghĩ:
Đó đời sống
Một đời sống
Đầy thơ

Trên cao
Sao nhấp nhánh
Bầu trời
Chói lọi, sắc xà cừ
Từ bờ
Gió hiu hiu
Đưa ngón tay
Mơn man
Mặt biển

Ôi
Đời sống tự do của dân chài
Mà bao bài thơ đã ca ngợi
Trên cột buồm
Một cánh buôm trắng
Miêu tả như thế
Thật dễ dàng
Hãy để vào đó
Một “biển vô biên”
Tô nhẹ lên
Một màu xanh
Và tất cả biến thành rất tốt
Mỹ lệ
Và dễ thương

Nhưng làm thế nào
Với hàm răng chó sói
Gió buốt cắn da ta
Và với hạt bằng chì
Những hạt mưa đá dội đầu ta?

Bạn trở về nhà
Run
Ướt át
Và trong chiếc thuyền
Há hốc
Hai con cá
Óng ánh bạc trong đêm tối
Nếu Chúa Trời giáng xuống
Lúc này
Ông sẽ làm gì
Với hai con cá?
Cặp mắt nóng bỏng
Bị giày vò
Trái tim
Nặng căm hờn

Dưới mái lều
Lợp cói
Bạn ngủ thiếp
Nước mưa rỏ chậm rãi
Rồi trong giấc ngủ
Một nỗi hy vọng xa dâng lênÔi
Đời sống cực khổ con người
Đời sống dân chài
Không chắc chắn
Đời sống ấy – khó kể
Nào, bạn hãy ra đi
Để làm một bài ca về cuộc sống
1941

***

Песен на другаря

Ти не ще се върнеш, Фернандес –
днес картечен огън ви помете.
Във полето вие като пес
неуморно непокорен ветър.

Тръбен знак. И след сигнала пак
става тихо, непонятно тихо…
Във окопа дреме синкав мрак,
а в гърдите брули бесен вихър.

После някой с пръсти рий земята,
после къс и истеричен смях…
Някой грабна ръчната граната,
заотвинтва и отново спря.

След сигнала ти политна пръв.
Недалече чу се лай картечен.
Олюля се… на челото кръв…
Фернандес, не ще се върнеш вече.

Ний превзехме стръмнината днес.
Врязахме се в тяхната верига.
Колко би се радвал, Фернандес.
само тъй… да можеш да се вдигнеш.

Bài ca gửi người đồng chí 

(Người dịch: Nguyễn Xuân Sanh)

Phéc-nan-đê, bạn không trở về
Hôm nay, nhằm thẳng bạn, trung liên đã quyét
Ngọn gió không ngừng gào thét
Như chó rống trên cánh đồng đất lạnh se

Hiệu kèn gọi. Rồi ngay sau đó
Một sự lặng im rất đỗi lạ lùng
Ngực bị giày vò trong ngọn gió
Chiến hào lao sâu, chiếc hầm màu xanh hãi hùng

Có những ngón tay ai đang cào đất
Hãy nghe, một tiếng cười điên loạn, không đều
Ai cầm chắc quả lựu đạn trong tay
Lại ngừng tay khi sắp mở chốt

Sau hiệu kèn, bạn ngã đầu tiên
Không xa đây, tràng liên thanh sủa
Máu đầm trên trán…bạn ngả nghiêng…
Phéc-nan-đê, bạn không về nữa

Ta vừa lấy được ngọn đèo
Đã thọc một mũi sâu vào hàng ngũ chúng
Phéc-nan-đê, bạn sẽ sung sướng
Nếu bạn có tể đứng dậy, lao theo.

***

Песен

Над горите,
над Пирина
вятър вие.
Ние тръгнахме
седмина
да се бием:
и зад нас
остана надалече
и Пирин,
и звездната му вечер.

С зверове
се криехме в шумака
и така преминахме
оттатък.
И познахме
сякаш по тревите
на бащите
кървите измити.
И познахме
сякаш по листата
майките ни
где лежат в земята.
И познахме
по пръста ръждива,
първата ни обич
где почива.

Тръгнахме седмина
да се бием.
Само трима
върнахме се ние.

*

Bài hát 

(Người dịch: Nguyễn Xuân Sanh)

Trên rừng lặng im
Trên núi Pirin
Ngọn gió hoang rú
Chúng tôi xếp hàng ngũ
Bảy người
Bảy người đi chiến đấu
Đằng sau
Xa đằng sau
Sừng sững núi Pirin
Và đêm sao của nó

Với những con thú hoang
Chúng tôi nấp trong lá
Và như có phép lạ
Chúng tôi sang bên kia
Của cái chết
Chúng tôi biết
Như trên đám cỏ
Ông cha chúng ta
Đã từng đẫm máu

Và chúng tôi biết
Sau những khóm lá biếc
Các mẹ chúng ta
Trên đất quê nhà
Đâu nơi yên nghỉ
Mối tình đầu chúng ta

Chúng ta ra đi
Bảy người bạn
Chiến đấu diệt quân thù
Ba người với chúng tôi
Trở về với làng xóm

***
Химн

Неспирно напирай, разраствай,
издигай бетонни стени!
На робството черната напаст
потъва в далечни мъгли.

Издигай в небето антени,
с сирени покоя разбий!
И в утрото нека засмени
прогреса посрещнеме ний!

Че всяка израснала сграда,
подпряла небесния свод,
е крепост, която изгражда
народът за мирен живот.

Стремително, смело нагоре!
В небето, където тупти
размерно сърцето моторно,
издигай бетонни стени!

Издигай в небето антени,
с сирени покоя разбий!
И в утрото нека засмени
прогреса посрещнеме ний!

*

Bài thánh ca 

(Người dịch: Nguyễn Xuân Sanh)

Mọc không ngừng và lớn lên nhanh
Những bức tường cốt sắt dựng đứng
Chế độ nô lệ không còn thế vững
Trong lớp mù sa bị đổ tan tành

Trong trời xanh toả những dây trời
Còi báo hiệu cảnh bình yên đã mở
Với buổi sáng tươi cười
Chúng ta đón mừng Tiến bộ!

Mỗi ngôi nhà gạch được xây lên
Nắng đỏ cả bầu trời xanh thắm
Nó là một pháo đài thiêng liêng
Nhân dân đắp cho cuộc đời êm thấm

Mãnh liệt, anh hùng hướng chiều cao
Trong khoảng trời luôn luôn nhộn nhịp
Trái tim kiên trinh của xí nghiệp
Đứng vững những bức tường cao

Trong trời xanh toả những dây trời
Còi báo hiệu cảnh bình yên đã mở
Với buổi sáng tươi cười
Chúng ta đón mừng Tiến bộ!

1937

.

 

Ще строим завод Chúng ta sẽ xây một nhà máy lớn (Người dịch: Nguyễn Xuân Sanh)
Ще строим завод,
огромен завод,
със яки
бетонни стени!
Мъже и жени,
народ,
ще строим завод
за живота!Децата ни мрат
в отровната смрад,
без слънце,
в задушни коптори.
Светът е затвор.
Мъже и жени, народ,
ни крачка назад!
Ще строим завод
за живота!Децата ни мрат
в задушната смрад
със жадни за слънце очи.
А ние? – Бездушно
превиваме врат
и мълчиме,
позорно мълчим.Прокарахме мрежи
и в тях укротена тече,
да, нашата кръв
преминава
в проводните мрежи
и движи живота.

А той ни помита,
влече
и ние го гледаме
с тъпа, наивна
небрежност.
Със нокти дълбахме скалите.
В гранита
тунели пробихме.
Опасахме с релси земята,
в недрата й
всичко открихме.
Антени замрежват небето,
където
в мъглите
забити
са небостъргачи,
а още нагоре в простора
стоманени
гарвани
грачат.
Другари,
да бъдем наясно –
не удрям клеймо
на прогреса,
и знам прекрасно,
че не прогреса е, който ни души.
И ние не ще го рушим.

-Ще строим завод,
огромен завод,
със яки
бетонни стени.
Мъже и жени,
народ,
ще строим завод за живота!

Chúng ta sẽ xây một nhà máy lớn
Một nhà máy lớn tường cốt sắt bọc vôi
Hỡi bạn nam và bạn nữ tôi ơi
Hỡi đồng bào yêu quí
Chúng ta sẽ xây một nhà máy lớn
Của cuộc đờiCon chúng ta chết
Trong mùi hôi thê thảm
Không ánh sáng mặt trời
Không mái lều gianh
Thế giới hiện nay là một nhà tù đó
Hỡi bạn nam và bạn nữ
Hỡi đồng bào
Không một bước lùi xa
Chúng ta sẽ xây một nhà máy lớn
Của cuộc đờiCon chúng ta chết
Trong mùi hôi bê bết
Với hai con mắt thèm ánh sáng mặt trời
Còn chúng ta thì đầu cúi xuống
Tơi bời
Chúng ta làm thinh
Làm thinh mà hổ thẹn
Chúng ta mắc trên tường những đường dây điện

Vào đây máu chúng ta quyện
Vâng, máu chúng ta chảy trong dây điện vòng quanh
Và đẩy cuộc sống đi nhanh
Nhưng cuộc sống quét chúng ta, kéo chúng ta đi
Còn chúng ta thì nhìn cuộc sống ngây thơ uể oải
Chúng ta đã đào tảng đá bằng những móng tay dằng dải
Chúng ta đã đào hầm xe lửa xuyên sơn
Chúng ta đã buộc trái đất bằng đường sắt
Chúng ta đã khám phá
Được lắm thứ trong lòng trái đất

Đây máy bắt làn sóng điện ngang dọc trời cao
Trên đó
Trong mây mù bao phủ
Vượt lên những ngôi nhà lớn chọc trời
Và trên cao nữa trong không gian chơi vơi
Còn kêu to những con quạ thép
Chúng ta phải rõ ràng, hỡi những người đồng chí
Tôi không trách đâu
Tiến bộ của hoàn cầu
Tôi rất biết
Rằng tiến bộ không chèn ép chúng ta
Và chúng ta cũng không bao giờ
Lại đi nghẽn bước đường của tiến bộ

Chúng ta sẽ xây một nhà máy đó
Một nhà máy rộng mênh mông
Tường cốt sắt không thể vỡ được mà hòng
Hỡi bạn nam và bạn nữ
Hỡi đồng bào
Vì con cái thân yêu
Mà chúng ta sẽ xây một nhà máy lớn
Của cuộc đời

Не бойте се деца Chớ sợ các con ơi (Người dịch: Nguyễn Xuân Sanh)
Работиме много,
работим от сутрин до здрач.
Но хлеба е малко.
Но хлеба не стига, деца.
И ваште лица
са сгърчени вече от плач.
И ваште очи
са сухи и неми –
такива големи,
мъчително тъжни очи…
И в тех е стаен
ужас свиреп:
хлеб!
хлеб!
хлеб!

Послушайте, малки,
послушайте, мънички мои, –
така е днес,
наверно било е и вчера.
И аз, понеже нямам храна,
понеже нямам с какво,
ето на:
ще ви нахраня
със вера.

-Ще дойдат години
и ний ще ги стигнем водите
ще впрегнем в бетонен ръкав.
Не ще ги изпуснем, нали?
Ще ги впримчиме здраво.
Ще им кажем:
“Така ще вървите!”
И те ще тръгнат –  така!

Ще имаме хлеб тогава.
Ще имаме хлеб!
И радост в очите ще имате,
мънички мои.
Имам ли аз –
то значи да има за теб,
имаш ли ти –
то значи да има безброя.

И толкова хубав ще бъде
тогава живота.
И днешната плесен
ще бъде безкрайно далеко.
Ще пееме всички.
Ще пеем, когато работим,
но радостни песни,
които ще славят човека.

И, ако случайно
и аз остарея, тогава
ще гледам от своя прозорец
далечния път,
ще гледам как вие се връщате,
бодри и здрави,
и тихо ще шепна:
“О, колко е хубав светът!”

Така и ще бъде!
А днеска оскъден е хлеба.
На вашите майки
гърдите са сухи сега.
Да хленчим – не ще ни помогнат
и хленч не ни трябва.
Но мен ме притиска
жестока, дълбока тъга. –
За вашто “сега”
е горест стаена във мен.
Ала
не бойте се, деца,
за утрешния
ден.

Chúng ta làm việc nhiều
Từ sáng cho đến tối
Song bánh mì ít ỏi
Không đủ chén, con ơi
Gương mặt các con tôi
Giày vò trong nước mắt
Mắt các con đau thắt
Như điếc và như câm
Những cặp mắt to tròn
Biết bao nhiêu đau khổ
Gương mặt, con mắt đó
Dựng mấy nỗi ê chề
Bánh mì!
Bánh mì!
Bánh mì!

Các con hãy nghe cha
Hãy nghe cha cho rõ
Ngày hôm nay vậy đó
Ngày mai cũng vậy thôi
Cha, không có ăn rồi
Không gì nuôi con cả
Naof, đây
Cha, sẽ nuôi các con
Bằng tấm lòng tin tưởng

Tháng năm ròng sẽ đến
Chúng ta thắng dây cương
Buộc tháng ngày yêu thương
Vào cánh tay sắt thép
Cầm tù chúng nơi đây
Ta sẽ không buông tay
Và ta sẽ bảo chúng:
“Bay cứ bước thế này!”
Vẫn đi qua, tháng ngày

Rồi ta phải có bánh
Mắt các con sẽ vui
Các con ơi
Bởi vì nếu ta có
Thì các con sẽ có
Đã có cho các con
Là sẽ vô cùng tận

Đời sẽ đẹp bao nhiêu
Đám mốc bẩn tiêu điều
Sẽ biến xa mải miết
Chúng ta vừa làm việc
Vừa đồng thanh hát ca
Những bài hát chan hòa
Đón chào con người mới

Nếu nhỡ cha già đi
Từ cửa sổ nhà ta
Cha có thể nhìn thẳng
Thấy các con trở về
Vui tươi và khoẻ mạnh
Cha sẽ nói thầm lặng:
“Thế giới đẹp làm sao!”

Ngày mai sẽ là vậy
Song những ngày hôm nay
Ta đang thiếu bánh mì
Vú mẹ hiền các con
Vẫn cạn khô rông rốc
Than vãn và kêu khóc
Chẳng ai giúp ta đâu
Ta đâu cần than vãn
Nhưng nỗi buồn sâu đậm
Uất ức đè ngực ta
Thấm thía trong lòng cha
Có nỗi đau vô hạn
Cha sẽ làm quà tặng
Nhưng chớ sợ, con ơi
Ngày mai rồi sẽ

Пролет Chim bồ câu gù (Người dịch: Nguyễn Xuân Sanh)
Гълъбите гукат
в близката гора
По тревата падат
сребърни пера.
Мене ми е леко
като никой път –
чувствам се ефирен,
чувствам се
без плът.

През елите бликат
слънчеви лъчи.
Ще затворя свойте
блеснали очи,
но пак ще усетя
с чудна яснота
как ще ме целуне
топло пролетта.

Волно във простора птиците летят.
Пеят и извиват серпантинен път.
В песента познавам химна вдъхновен,
с който ще посрещнем утрешния ден.

Chim bồ câu gù
Trong rừng bên cạnh
Những lông tơ trắng
Rơi trên cỏ xanh
Tôi thấy mong manh
Như từ lâu lắm
Tâm hồn cao thẳm
Tâm hồn phiêu diêu

Qua tán bách tùng
Ánh trời chói rạng
Tôi khép vui mừng
Đôi con mắt sáng
Tôi lại cảm thương
Tia nắng dị thường
Tay mùa xuân ấm
Ôm tôi đằm thắm

Trong bầu trời, chim bay tự do
Chúng liệng vòng quanh và hát
Chúng hát một bài thánh ca
Cùng ta đón một ngày mai bát ngát

Борбата е безмилостно жестока Cuộc đấu tranh thật là khốc liệt (Người dịch: Xuân Diệu)
Борбата е безмилостно жестока.
Борбата както казват, е епична.
Аз паднах. Друг ще ме смени и…
толкоз.
Какво тук значи някаква си личност?!

Разстрел, и след разстрела – червеи.
Това е толкоз просто и логично.
Но в бурята ще бъдем пак със тебе,
народе мой, защото те обичахме!

Cuộc đấu tranh thật là khốc liệt
Người ta nói: cuộc đấu tranh dũng kiệt
Tôi ngã xuống. Một người khác sẽ thay…
Thế thôi.
Ở đây không quan trọng chi, tên của một người.

Bị xử bắn – sau đó lũ dòi
Tất cả việc này giản đơn, lô gích
Nhưng trong bão táp
Chúng tôi sẽ ở với Người mãi mãi
Nhân dân ơi!
Bởi chúng tôi đã mến yêu Người

14 giờ ngày 23.07.1942.
Bài thơ này cũng được làm một hôm trước khi bị hành hình.

Пролет в завода Mùa xuân trong nhà máy (Người dịch: Nguyễn Xuân Sanh)
Тя искаше да влезе с първа смяна,
ала моторът изруга
сърдито
“Не може тъй,
аз тук съм отговорен,
без марка где?
Виж, портиера питай!”

Но тя бе някак страшно упорита
и не попита портиера. –
Влезе.
Отвори някакъв прозорец горе
и скрито на мотора
се изплези.

И изведнъж запя една машина.
Но хората
работеха несръчно.
Разбрал коя е скритата причина,
моторът каза:
“Аз ще я отлъча!”
– Ще я отлъчиш ли? – попита със насмешка
една добра чугунена бъркачка.
– Опитай се, бъбрива въртележка,
та ний за нея ще направим стачка.

Моторът млъкна. Вятърът донесе
отнейде
топъл лъх на чернозем,
един напев – широк и весел –
и стъпки
на напукани
нозе.Онез, които някога са
порили
земята, пърхаха като коне.
А другите, прозорците разтворили,
сияеха пред
синьото
небе.

От папмашината изпсува
някой грубо.
Едно момиче весело запя.
Един младеж го стрелна
с поглед влюбен
и то поруменя.

Тогава влезе портиерът тихо
и каза:
“Кой се контрабандно вмъкна?”
Ала разбра, виновно се усмихна,
почеса се,
подсвирна,
после млъкна.

Nó vào với toán thợ đầu tiên
Nhưng chiếc máy nổ
la inh ỏi:
“không thể được!”
Người gác cổng hỏi:
“Nào đưa xem, tấm thẻ công nhân!”

Nhưng nó rất cứng đầu cứng cổ
Không thèm hỏi ai
Nó cứ vào
Nó mở cánh cửa sổ tầng cao
Nó thè lưỡi đùa
sau máy nổ

Bỗng nhiên một cỗ máy lên tiếng hát
Mọi người
nghe lời ca dào dạt
Máy nổ cất giọng nói thiết tha
“Được rồi, ta sẽ đuổi nó ra!”- Thế nào? Anh định tâm đuổi nó?
Chiếc chong chóng gang hỏi và cười rộ
– Vì tiếng hát kia, chong chóng ơi
Nhà máy ta sẽ nghỉ việc thôi!

Máy nổ lặng im. Gió mang lại
Hơi nóng
từ những nơi xa ngái
Và một điệp khúc vui mênh mông
Những bước đi
chân bước trập trùng

Những người xưa đã đi nhanh trên đất
Vút phi như một đàn ngựa bay
Và những người đã mở cửa đầu ngày
Chói chang
một bầu trời
xanh ngát

Sau cỗ máy kẻ nào lên tiếng rủa
Nhưng một nữ thanh niên hát bài hát vui
Một chàng trai nhìn cô tươi cười
Cô gái bỗng thẹn thùng xấu hổ

Người gác cổng lặng lẽ bước đến nơi
“Ai đã trốn vào đây trái phép?”
Nhưng bác hiểu và bác mỉm cười
Gãi đầu
đứng im
ngắm mùa xuân tươi

 
Вяра Niềm tin (Người dịch: Nguyễn Xuân Sanh)
Ето – аз дишам,
работя,
живея
и стихове пиша
(тъй както умея).
С живота под вежди
се гледаме строго
и боря се с него,
доколкото мога.

С живота сме в разпра,
но ти не разбирай,
че мразя живота.
Напротив, напротив! –
Дори да умирам,
живота със грубите
лапи челични
аз пак ще обичам!
Аз пак ще обичам!

Да кажем, сега ми окачат
въжето
и питат:
“Как, искаш ли час да живееш?”
Веднага ще кресна:
“Свалете!
Свалете!
По-скоро свалете
въжето, злодеи!”За него – Живота –
направил бих всичко. –
Летял бих
със пробна машина в небето,
бих влезнал във взривна
ракета, самичък,
бих търсил
в простора
далечна
планета.

Но все пак ще чувствам
приятния гъдел,
да гледам как
горе
небето синее.
Все пак ще чувствам
приятния гъдел,
че още живея,
че още ще бъда.

Но ето, да кажем,
вий вземете, колко? –
пшеничено зърно
от моята вера,
бих ревнал тогава,
бих ревнал от болка
като ранена
в сърцето пантера.

Какво ще остане
от мене тогава? –
Миг след грабежа
ще бъда разнищен.

И още по-ясно,
и още по-право –
миг след грабежа
ще бъда аз нищо.

Може би искате
да я сразите
моята вяра
във дните честити,
моята вяра,
че утре ще бъде
живота по-хубав,
живота по-мъдър?

А как ще щурмувате, моля?
С куршуми?
Не! Неуместно!
Ресто! – Не струва! –
Тя е бронирана
здраво в гърдите
и бронебойни патрони
за нея
няма открити!
Няма открити!

Đây – tôi thở
Tôi làm việc
Tôi sống
Và tôi làm thơ
(Theo kiểu riêng tôi)
Cuộc sống và tôi
Hai bên đều cau mày
Đọ mắt nhìn nhau
Và tôi đấu tranh với cuộc sống
Đến mấy cũng không vừa

Chúng ta đấu tranh với cuộc sống
Nhưng chớ tin, chớ tin rằng
Tôi ghét cay cuộc sống
Trái lại, trái hẳn lại
Dù tôi có sắp chết
Cuộc sống
Với nắm đấm thép ác nghiệt của nó
Tôi vẫn yêu nó
Tôi vẫn yêu nó

Nếu ngay bây giờ người ta vắt qua đầu tôi
Một sợi dây thừng
Và hỏi tôi
“Mày muốn sống một giờ nữa hay không?”
Tức thì tôi kêu:
“Nhấc lên
Nhấc lên
Nhấc nhanh dây thừng lên
Hỡi những tên đạo tặc!”Vì nó – Cuộc sống
Tôi làm tất
Tôi bay
Trên chiếc máy bay thử vào trời xa
Tôi đi một mình
Trên một hoả tiễn
Trong vũ trụ không gian
Tôi tìm một hành tinh
Không với được

Ít nhất tôi có một xúc cảm dễ chịu
Thấy
Trên kia
Trời xanh thắm thế nào
Ít nhất
Tôi có một cảm xúc dễ chịu
Thấy còn sống
Thấy còn được sống nữa

Giả dụ
Anh lấy mất của tôi – Bao nhiêu?
Chỉ một hạt nhỏ
Niềm tin
Tôi sẽ thét gào
Sẽ thét gào đau đớn
Như con báo
Bị tử thương

Lúc ấy tôi còn gì nữa nhỉ?
Sau vụ cướp ấy
Tôi hết đường xoay trở

Và rõ ràng hơn
Và đúng hơn
Là sau vụ cướp ấy
Tôi sẽ không còn là gì nữa

Có thể anh muốn
Giẫm đạp niềm tin của tôi
Trong những ngày vui sướng
Niềm tin vào mai sau
Nó làm cho cuộc sống đẹp hơn
Khôn ngoan hơn nữa?

Anh tấn công nó thế nào
Xin anh cho biết?
Với những viên đạn?
Không! Trật rồi!
Chẳng cần! Chẳng đáng giá gì!Niềm tin được bọc thép
Rắn chắc trong ngực tôi
Và những viên đạn đục thủng được
Bộ thiết giáp của nó
Chưa được phát minh đâu!
Chưa được phát minh đâu!

Имам си родина Tôi có một tổ quốc (Người dịch: Nguyễn Xuân Sanh)
Имам си родина и над нея
денем грее синьото небе.
Вечер светят звездни полюлеи
и гаси ги сутрин светъл ден.

Но когато нощем се завръщам
на стрехите тъмното поел,
чувствам как до родната ми къща
дебне враг в ръката с парабел.

Учеше ме, майко, ти със притчи
да обичам всички като теб.
Бих обичал, майко, бих обичал,
но ми требва свобода и хлеб.

Tôi có một Tổ quốc. Và trên đó
Suốt ngày dài chói rạng một trời xanh
Ban đêm những ngọn đền sao nở
Và bình minh hẹn một ngày trong lành

Khi đêm tối xuống tôi trở về
Đi theo con đường nhỏ đầu hè
Tôi thấy bên ngôi nhà tôi sinh trưởng
Bọn kẻ thù cầm súng lục chờ nghe

Mẹ ơi, với truyện cổ mẹ dạy con
Biết yêu thương mọi người như mẹ
Mẹ ơi, con biết yêu thương, yêu thương
Nhưng con phải có bánh mì, tự do, và không nô lệ

Эпоха Thời đại (Người dịch: Nguyễn Xuân Sanh)
Машини,
стомани,
машини
и масло, и пара,
и смрад.
В небето – бетонни комини,
в бордеите – призрачен глад.
Във Мексико златното зърно
изгарят във парни котли.
А роби, с напукани бърни,
събират го нощи и дни.

Гърмят елеватори.
Бодро
мотора
удари
юмрук
на времето
в старата
морда.

Разкъса “магичния кръг”
човека и днеска лети
от волната птица
по-бързо.
Но все пак живота гнети.
Живота без милост ни вързва
крилата със яки въжа,
задушава с отровната плесен
на своята стара ръжда.
И жадния устрем потиска
стоманена каска-небе.
А доле размирно се плиска
човешкото тъмно море.
Напразни лозунги за братството –
живота изправя стена.
Живота – изпечен развратник –
цинично отвръща: – Война! –
Война!
А безброя от гладни?
Война!
А безцелната смърт?
А нашата бликаща младост,
която раздрусва светът?

Епоха на дива жестокост,
препускаща лудо напред.
Кипяща, стоманна епоха
пред прага на новия свет.

Máy móc
Thép
Máy móc
Và dầu mỡ, hơi nước và xú khí
Những ống khói bằng xi măng trên bầu trời
Trong các gian lều – bóng dáng sự nghèo đói
Ở Mê-hi-cô, hột vàng
Được nung trong nồi hơi
Trong khi những người nô lệ môi nẻ
Nhặt nó ngày đêm

Cần trục chạy rầm rầm
Máy động lực dũng cảm
Tống
Một nắm đấm
Vào cái mõm già nua của Thời Đại

Con người phá vỡ cái “vòng ma thuật”
Và ngày nay bay
Nhanh hơn
Con chim rộng cánh
Nhưng cuộc đời vẫn đè nén
Cuộc đời cắt không thương tiếc
Bằng một bàn tay khéo léo, cánh của ta
Cuộc đời bóp nghẹt ta
Dưới đám mốc meo độc dại
Và dưới mảng gỉ cũ của nó
Bầu trời như một chiếc mũ thép
Ngăn chặn bước vươn tới và chà đạp nó
Và trong chiều lắng sâu kia
Rộn ràng biến động những con người
Những khẩu hiệu trống rỗng: tình huynh đệ muôn năm
Cuộc đời – nhân danh một tên đoạ lạc già
chó má đáp lại: “Chiến tranh!”
– Chiến tranh!
– Và kẻ đói, làm sao đếm xiết!
– Chiến tranh!
Và lớp trẻ gào lên
Và cái chết vô ích
Chuyển rung thế giới?

Thời đại tội ác dã man
Cuống quýt phi ngựa trốn xa
Thời đại chất thép sục sôi
Ở đây, ngay trên ngưỡng cửa thế giới mớ

романтика Về chủ nghĩa lãng mạn (Người dịch: Nguyễn Xuân Sanh)
Аз искам да напиша
днес
поема,
в която да диша
на новото време
стихът.
Да тръпнат във нея
крилата
на гордия
демон,
обходил от полюс до полюс
светът.Защо е този хленч?
Защо въздишат хората
по някаква романтика
изстинала?
Романтиката е сега в моторите,
които пеят
по небето синьо.

И неразбрали тази песен горда,
напразно
мръщите
чела.
Тя носи вечната
човешка бодрост
на яките
стоманени
крила.

Аз виждам в бъдещето тез
орляци
да пръскат
дъжд
от семена.
И в песните им,
рукнали
отгоре,
да блика
труд
и свобода.

Аз виждам как
прелитат
над моретата,
високо над екваторния пек,
прелитат над зелените полета
и над арктическия снег.

Това е новата романтика,
която
се ражда
и добива своя плът.
И въплотена в самолетно
ято,
обхожда днес
от край
до
край
светът.

Tôi muốn viết
hôm nay
một trường ca
trong đó câu thơ
thở
những thời đại mới
Trong trường ca phập phồng
những chiếc cánh
của con quỷ
kiêu căng
đã đi vòng quanh thế giới
phương bắc, phương namSao lại khóc vờ như vậy?
Sao có những người lại thở ra
sau một chủ nghĩa lãng mạn
đã chết cóng?
Chủ nghĩa lãng mạn ngày nay ở trong các động cơ
đang hát ca
giữa bầu trời xanh

Không hiểu bài hát tự hào ấy
thì vầng trán các anh
sa sầm
vô ích
Bài thơ mang
sức mạnh mãi mãi con người
trên các cánh
vững vàng
bằng chất thép

Tôi nhìn thấy bay trong tương lai
những tốp máy bay
trút
một trận mưa
hạt giống
Và trong những điệu ca
rót từ trên trời xuống
vung toả ra
lao động
và tự do

Tôi nhìn thấy
chúng vươn
trên biển cả
từ cao, trên đường xích đạo nhiệt đới
chúng lướt cánh đồng xanh
và tuyết giá của Băng dương

Đó là chủ nghĩa lãng mạn mới
nó được sinh ra
và đang thành hình
Và nhập vào
một biên đội
máy bay
ngày nay nó đi
từ đầu này đến đầu kia
thế giới

Пролет Xuân đến (Người dịch: Nguyễn Xuân Sanh)
Отвънка ухае на люляк,
отвънка е синьо небе.
Приятелю, птиците чу ли?
Отвънка е пролет! Здравей!Дори през бензинните пари,
през пласт от стоманни ята
тя иде. Вратите разтваряй
и бодър срещни пролетта.

Тя иде с реките, които
събират сребристия сняг,
тя идва със бой канонаден,
разбива простора мъглив.

Тя пита: “Стоиш ли на поста?
Не клюмна ли вече глава?”
И после те грабва и носи
на своите светли крила.

В очите ти пламват пожари,
кръвта ти немирно шуми.
Пред тебе светът се разтваря,
разтварят се слънчеви дни.

Ти имаш любима? – Обичай!
Ти вярваш в живота? – Добре!
Подай си ръката челична –
отвънка е пролет! Здравей!

Ngoài kia nó ủ thơm cây xoan
Ngoài kia nữa là bầu trời xanh
Bạn có nghe tiếng chim hót?
Ngoài kia là mùa xuân! Chào mùa xuân!Qua hơi nóng sặc sụa nồi hơi
Qua tiếng máy ầm ào sắt thép
Nó đến kia. hãy mở tung mọi cửa rộng, hẹp
Và chào đón mùa xuân khắp nơi

Xuân đến với con sông xa
Nhặt vội vàng những bông tuyết bạc
Nó đến với cuộc đọ sức bằng đại bác
Và toả sâu vào lớp mù quê ta

Nó hỏi: “Anh có ở đúng vị trí chiến đấu không?
Anh có còn cúi đầu phục tòng?”
Nó nắm lấy tay anh thật chặt
Và nâng anh lên khoảng trời bát ngát

Từ mắt anh lửa sáng cháy bừng lên
Máu anh sôi rộn ràng náo nức
Thế giới mở trước mặt anh
Và mở những ngày nắng rạo rực

Anh có người yêu? – Hãy yêu nồng thắm
Hẳn anh tin tưởng ở cuộc đời?
Tốt! – Anh hãy đưa bàn tay ấm
Chào mùa xuân! Xuân đến đây rồi!

***

1 Comment (+add yours?)

  1. Bùi Thái Hùng
    Aug 14, 2016 @ 09:35:36

    – Tên của nhà thơ này đã được đặt tên cho Trường ĐH Hàng hải Varna – BBMY- ( mời tham khảo trang W Đoàn LHS Bulgari khóa 1976 – tiện đây ,chúng tôi xin cảm ơn các bạn phụ trách trang W đó nhé !).
    – Bức họa chân dung của của nhà thơ,người thợ máy thủy thủ,chiến sỹ đấu tranh cho HÒA BÌNH – N.I.Vapsarov :

    Reply

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Free counters!

%d bloggers like this: