Những truyền thuyết về Tết Trung thu


Một số truyền thuyết quanh ngày Tết Trung thu 

Truyền thuyết Hằng Nga  

Tương truyền, vào thời xa xưa, trên trời xuất hiện mười ông mặt trời, cùng chiếu xuống mặt đất nóng đến bốc khói, biển hồ khô cạn, người dân gần như không thể sống nổi. Chuyện này đã làm kinh động đến một anh hùng tên là Hậu Nghệ. Anh đã trèo lên đỉnh núi Côn Lôn, dùng thần lực giương nỏ thần bắn rụng chín ông mặt trời. Hậu Nghệ đã lập nên thần công cái thế, nhận được sự tôn kính và yêu mến của mọi người, rất nhiều chí sĩ mộ danh đã tìm đến tầm sư học đạo, trong đó có Bồng Mông là một kẻ tâm thuật bất chính.

Không lâu sau, Hậu Nghệ lấy một người vợ xinh đẹp, tốt bụng, tên là Hằng Nga. Ngoài dạy học săn bắn, cả ngày Hậu Nghệ luôn ở bên cạnh vợ, mọi người đều ngưỡng mộ đôi vợ chồng trai tài gái sắc này. 

Một hôm, Hậu Nghệ đến núi Côn Lôn thăm bạn, trên đường tình cờ gặp được Vương mẫu nương nương đi ngang qua, bèn xin Vương mẫu thuốc trường sinh bất tử. Nghe nói, uống thuốc này vào, sẽ lập tức được bay lên trời thành tiên. Nhưng Hậu Nghệ không nỡ rời xa vợ hiền, đành tạm thời đưa thuốc bất tử cho Hằng Nga cất giữ. Hằng Nga cất thuốc vào hộp đựng gương lược của mình, không ngờ đã bị Bồng Mông nhìn thấy.

Ba ngày sau, Hậu Nghệ dẫn học trò ra ngoài săn bắn, Bồng Mông với tâm địa xấu xa đã giả vờ lâm bệnh, xin ở lại. Đợi Hậu Nghệ dẫn các học trò đi không lâu, Bồng Mông tay cầm bảo kiếm, đột nhập vào hậu viện, ép Hằng Nga phải đưa ra thuốc bất tử. Hằng Nga biết mình không phải là đối thủ của Bồng Mông, trong lúc nguy cấp đã vội vàng mở hộp gương lược, lấy thuốc bất tử ra và uống hết. Hằng Nga uống thuốc xong, thấy người bỗng nhẹ rời khỏi mặt đất, hướng về cửa sổ và bay lên trời. Nhưng do Hằng Nga còn nhớ chồng, nên chỉ bay đến mặt trăng là nơi gần với nhân gian nhất rồi trở thành tiên.

Tối hôm đó, khi Hậu Nghệ về đến nhà, các thị nữ vừa khóc vừa kể lại câu chuyện xảy ra lúc sáng. Hậu Nghệ vừa lo vừa giận, đã rút kiếm tìm giết nghịch đồ, nhưng Bồng Mông đã trốn đi từ lâu. Hậu Nghệ nổi giận nhưng chỉ biết vỗ ngực giậm chân kêu khóc. Trong lúc đau khổ, Hậu Nghệ đã ngửa cổ lên trời đêm gọi tên vợ hiền. Khi đó, anh kinh ngạc phát hiện ra, trăng hôm nay đặc biệt sáng ngời, mà còn có thêm một bóng người cử động trông giống Hằng Nga. Hậu Nghệ vội sai người đến hậu hoa viên nơi Hằng Nga yêu thích, lập bàn hương án, đặt lên đó những món ăn và trái cây mà bình thường Hằng Nga thích ăn nhất, để tế Hằng Nga nơi cung trăng đang nhớ đến mình.

Sau khi mọi người nghe tin Hằng Nga lên cung trăng thành tiên nữ, đều đã lần lượt bày hương án dưới ánh trăng, cầu xin Hằng Nga tốt bụng ban cho may mắn và bình an. Từ đó, phong tục “bái nguyệt” vào tết trung thu được truyền đi trong dân gian.

Sự tích Thỏ Ngọc 

 Tương truyền vào thời xa xưa, có một cặp thỏ tu luyện ngàn năm, đắc đạo thành tiên. Chúng có bốn chú thỏ con trắng tinh và đáng yêu.  Một hôm, Ngọc Hoàng thượng đế triệu kiến thỏ chồng lên thiên cung. Khi đến Nam thiên môn , nhìn thấy Thái Bạch Kim Tinh dẫn theo thiên tướng áp giải Hằng Nga đi ngang. Thỏ tiên không biết đã xảy ra chuyện gì, liền hỏi một vị thần gác cửa. Sau khi nghe xong hoàn cảnh của Hằng Nga , Thỏ tiên cảm thấy Hằng Nga chỉ vì giải cứu bách tính mà vô tình chịu tội, nên rất thương cảm. Nghĩ đến Hằng Nga một mình bị nhốt ở cung trăng, cô đơn đau khổ, nếu có người ở với nàng thì thật tốt, chợt nghĩ đến bốn con của mình, Thỏ tiên đã lập tức bay trở về nhà.

Thỏ tiên đem câu chuyện Hằng Nga kể với vợ và nói muốn đưa một thỏ con đi làm bạn cùng Hằng Nga . Thỏ vợ tuy vô cùng thông cảm với Hằng Nga, nhưng lại không nỡ rời xa các con yêu! Các thỏ con cũng không muốn rời xa cha mẹ, thỏ nào cũng khóc. Thỏ cha nói: “Nếu ta bị nhốt, các con có chịu ở với ta không? Hằng Nga vì giải cứu bách tính mà bị liên lụy, chẳng lẽ chúng ta lại không thương nàng? Các con, chúng ta không thể chỉ nghĩ đến bản thân!”

Các thỏ con rất hiểu lòng cha, nên đều đồng ý đi. Hai vợ chồng thỏ nước mắt lưng tròng, nhìn các con mỉm cười. Chúng quyết định để thỏ út đi. Thỏ út từ biệt cha mẹ và các chị, lên cung trăng ở cùng Hằng Nga.

Truyền thuyết bánh trung thu

Bánh trung thu tượng trưng cho sự đoàn viên, là thứ không thể thiếu để cúng trăng và thổ địa công vào mỗi mùa Trung thu. Phong tục ăn bánh trung thu vào Tết Trung thu bắt đầu từ cuối đời nhà Nguyên bên Trung Quốc đến nay.

Trong dân gian có rất nhiều truyền thuyết giải thích vì sao cứ đến tết Trung thu người ta lại ăn bánh trung thu. Một trong số các truyền thuyết đó liên quan đến hình tròn của bánh như mặt trăng.

Tương truyền rằng ngày rằm tháng tám một năm nọ có một đám trẻ con đang chơi đùa ầm ĩ dưới một cây hoa quế. Lúc đó một đứa trẻ từ nhỏ đã mất mẹ đi đến, nó rất muốn tham gia trò chơi, nhưng bị bọn trẻ cự tuyệt. bọn chúng chế nhạo đứa trẻ này là “thằng con hoang thiếu gia giáo”. Đứa trẻ tủi thân khóc òa lên.

Nguyên đứa trẻ này là con trai của Thất tiên nữ và Đổng Vĩnh. Sau khi Thất tiên nữ bị Vương Mẫu Nương Nương bắt  về thiên cung, em lưu lại trần gian cùng với cha. Em vừa khóc vừa kêu: “Mẹ ơi, mẹ ở đâu? Sao không đến đón con?”. Tiếng kêu khóc của em làm kinh động đến vị thần Ngô Cương, thế là thần hóa thành một người nông dân xuống trần gian. Thần an ủi đứa trẻ, khuyên em đừng khóc nữa. nhưng bất kể Ngô Cương khuyên thế nào, đứa trẻ vẫn cứ khóc. Ngô Cương hết sức khó sử, cuối cùng đành lén lấy đôi ủng lên trời đưa cho đứa trẻ, và dặn em: “Đợi khi nào trăng tròn mọc lên đi đôi ủng lên trời này vào sẽ có thể gặp được mẹ thân yêu của con.”

Đứa trẻ ghi nhớ đinh ninh lời của Ngô Cương, ngoan ngoãn chờ đợi. Khó khăn lắm mới đợi được mặt trời ngã về tây, lại đợi đến lúc sao sáng đầy trời. Cuối cùng mặt trăng tròn vành vạnh đã nhô lên. Đứa trẻ vội vàng đi đôi ủng vào rồi bay lên thiên cung.

Đứa trẻ lên đến thiên cung, được các tiên nữ hoan nghênh nồng nhiệt. Các tiên nữ chuẩn bị nhiều trái hồng, hạch đào, táo và đậu phộng cho đứa trẻ, còn dùng đường mật hoa quế trộn với đậu phộng, hạch đào làm nhân những chiếc bánh tiên thơm ngon, theo hình dáng của trăng tròn cho đứa trẻ ăn.

Đúng vào lúc các tiên nữ bận rộn tíu tít, đứa trẻ đang chơi đùa tưng bừng thì Ngọc Hoàng Đại Đế biết được chuyện này. Ngài nổi giận lôi đình, hạ lệnh giải Ngô Cương đến cung trăng, phạt Ngô Cương đi chặt các cây hoa quế; lại phái người tháo ủng lên trời của đứa trẻ, đưa em về trần gian. Đứa trẻ này thật như đã nằm trong giấc mộng, không ngờ vừa mới đoàn tụ với mẹ, lại bị chia lìa. Đứa trẻ lưu luyến những giây phút tốt đẹp, lưu luyến những chiếc bánh tiên trăng tròn.

Về sau, đứa trẻ trưởng thành và được làm quan. Mỗi lần đến rằm tháng tám, ông liền ra lệnh cho nhân dân các vùng làm loại bánh trăng tròn này, sau khi làm xong đem cúng dưới trăng tròn rực sáng biểu thị lòng tưởng nhớ đối với người thân. Hình dạng của loại bánh này giống trăng tròn. Vì vậy tên của bánh Trung Thu được lưu truyền suốt đến ngày nay.

Một truyền thuyết khác rất được phổ biến là phong tục ăn bánh trung thu bắt đầu từ cuối đời nhà Nguyên bên Trung Quốc. Hồi ấy có hai vị lãnh tụ của phong trào nông dân khởi nghĩa là Chu Nguyên Chương và Lưu Bá Ôn đã tổ chức nhân dân vùng lên chống lại bè lũ thống trị tàn bạo. Để có thể truyền đạt tin tức và mệnh lệnh một cách bí mật, người ta đã làm những cái bánh hình tròn, trong những cái bánh này đều có nhét thêm một tờ giấy ước định thời gian khởi nghĩa là lúc trăng sáng nhất trong đêm rằm tháng Tám âm lịch. Sau đó những cái bánh này được người ta truyền đi cho nhau và trở thành một phương tiện liên lạc. Phương pháp này tỏ ra hết sức hiệu nghiệm, tin tức hô hào khởi nghĩa đã được truyền đi khắp nơi.

Về sau người Trung quốc lấy việc làm bánh Trung thu vào ngày rằm tháng Tám để kỷ niệm sự kiện ấy. Như vậy phong tục ăn bánh Trung thu trong ngày tết Trung thu dần dần đã được lưu truyền cho tới ngày nay.

Thật ra bánh Trung thu đã có từ đời Đường. Nó được coi như một thứ đồ lễ để cúng thần mặt trăng, và hồi ấy bánh này được gọi là bánh nhỏ (tiểu bính) hay bánh ngọt (điềm bính) và ở kinh thành Trường An đã có những cửa hiệu làm và bán bánh Trung thu.

Sang đến đời Tống thì các nơi trong nước Trung Quốc đã có nhiều thứ bánh Trung thu với phong vị khác nhau. Người Hoa quen dùng bốn tiếng sau để gọi bốn kiểu thức theo bốn địa phương chính là: Bình Tô Quảng Đài (Bình hoặc Ping chỉ Bắc Bình hay Bắc Kinh), Tô (Su – tức Tô châu), Quảng (Kuang – tức Quảng Đông), Đài (Tai chỉ Đài Loan).

Truyền thuyết múa lân

Cách đây nhiều thế kỷ có một ngôi làng có tên là Thái Hàng, cư dân ở ngôi làng này sống bằng nghề nông ngư nghiệp. Năm đó, cách ngày rằm tháng tám vài ngày, ngôi làng đã bị một cơn bão lớn hoành hành gây ra những thiệt hại nghiêm trọng. Trong khi dân làng đang khắc phục hậu quả của cơn bão thì một con trăn khổng lồ xuất hiện, nó bắt và ăn thịt hết những vật nuôi của dân làng. Theo một số vị trưởng lão trong làng thì con trăn khổng lồ đó chính là con của một con rồng chúa. Cách duy nhất để đuổi con trăn đó đi là phải đốt lửa và nhảy múa ba ngày ba đêm trước ngày trung thu. Dân làng đã làm theo như thế và đốt thêm cả pháo nữa, quả nhiên ba ngày sau, con trăn đã biến mất theo cơn cuồng phong.

Truyền thuyết đèn kéo quân     

 Ngày xưa, gần đến dịp tết Trung thu, theo lệnh Vua, dân chúng nô nức thi nhau chế ra những chiếc đèn kỳ lạ nhưng không có chiếc đèn nào làm cho vua vừa ý. Bấy giờ, có một nông dân nghèo khó tên là Lục Đức mồ côi cha, ăn ở với mẹ rất hiếu thảo. Một hôm nằm mơ, Lục Đức thấy một vị thần râu tóc bạc phơ hiện ra phán rằng: “Ta là Thái Thượng Lãn Quân, thấy nhà ngươi nghèo khó nhưng ăn ở hiếu thảo với mẹ, vậy ta bày cho ngươi cách làm chiếc đèn dâng Vua”. 

Hôm sau theo lời dặn của Thần, Lục Đức cùng mẹ lấy những thân trúc trắng cùng giấy màu để làm chiếc đèn. Thời gian qua mau, khi chiếc đèn làm xong là ngày rằm tháng 8 cũng vừa đến. Chàng vui mừng cùng mẹ đem chiếc đèn vào kinh thành dâng vua. Nhà vua xem, thấy chiếc đèn vừa lạ, vừa nhiều màu sắc lại biết chuyển động nên rất hài lòng. Khi Vua hỏi ý nghĩa của chiếc đèn, Lục Đức theo lời Thần tâu rằng: “Thưa bệ hạ, thân trúc ở giữa đèn là biểu hiện trục khôn, cái chong chóng quay sáu mặt biểu tượng cho sáu cá tính của con người: thương, ghét, giận, buồn, vui, hờn. Cái chong chóng quay luôn luôn, tượng trưng cho con người hay thay đổi cũng có căn do, đó là đạo làm người. Chong chóng quay luôn cũng nhờ ánh đèn soi sáng, cũng như con người tốt lành cũng nhờ đạo đức. Sáu mặt của chiếc đèn làm bằng giấy tươi sáng biểu hiện cá tính của con người”.
Vua truyền đem đèn cho dân chúng cùng xem. Đèn đốt lên làm quay chong chóng. Hiện lên sáu màu sắc rực rỡ là hình ảnh vua, quan, người, ngựa nối đuôi nhau. Tất cả những hình nhân trên đèn được làm bằng giấy. Vua ban thưởng cho mẹ con Lục Đức rất hậu và phong làm Vạn Hộ Hầu.
Từ đó, mối khi đến Tết Trung thu, nhớ lại sự tích người con hiếu thảo Lục Đức, dân chúng đua nhau bắt chước chàng làm nên những chiếc đèn màu rực rỡ gọi là đèn kéo quân. 

 Nguyệt lão

Nguyệt hạ lão nhân (còn gọi là Nguyệt lão) là vị thần chuyên quản việc hôn nhân theo truyền thuyết Trung Quốc. Theo Thẩm Tam Bạch ghi trong sách “Phù sinh lục ký” thì vị thần này “một tay cầm dây tơ đỏ, một tay chống cây gậy trên đầu có treo sổ hôn nhân, sắc mặt như trẻ thơ mà tóc bạc trắng, đi lại giữa mịt mù không ra khói, không ra sương”.
Người ta cho rằng Nguyệt lão là thần nhân duyên, chuyên se duyên cho các đôi trai gái. Ông lấy sợi dây đỏ buộc chân họ lại với nhau, đã buộc ai vào ai thì dù xa cách núi sông cũng đến được với nhau, còn nếu như hai người không có dây đỏ buộc chân vào nhau thì có ở kề bên cũng không nên duyên chồng vợ được.
Rất nhiều nơi ở Trung Quốc có đền Nguyệt lão. Câu chuyện nổi tiếng nhất về Nguyệt lão là câu chuyện Vi Cố lấy vợ “Tơ hồng Nguyệt lão thiên tiên” dựa theo tích Vi Cố gặp ông lão trong một đêm trăng, ngồi kiểm sách hướng về phía mặt trăng, sau lưng có cái túi đựng đầy dây đỏ. Ông lão bảo cho biết đây là những văn thư kết hôn của toàn thiên hạ. Còn những dây đỏ để buộc chân những đôi trai gái sẽ thành vợ thành chồng. Một hôm, Vi Cố vào chợ gặp một bà già chột mắt ẵm đứa bé đi qua. Bỗng ông già lại hiện lên cho biết đứa bé kia sẽ là vợ anh. Vi Cố giận, bảo đày tớ tìm giết đứa bé ấy đi. Người đầy tớ lẻn đâm đứa bé giữa đám đông rồi bỏ trốn. Mười bốn năm sau, quan Thứ Sử Trương Châu là Vương Thái gả con gái cho Vi Cố. Người con gái dung nhan tươi đẹp, giữa lông mày có đính một bông hoa vàng. Vi Cố gạn hỏi, vợ mới bảo: Thuở còn bé, một bà vú họ Trần bế vào chợ bị một tên cuồng tặc đâm phải. Vi Cố hỏi: Có phải bà vú đó chột mắt không? người vợ bảo: Đúng thế! Vi Cố kể lại chuyện trước, hai vợ chồng càng quý trọng nhau cho là duyên trời định sẵn.

Mẩu chuyện vui: Tình yêu làm cho con người lú lẫn.

…”Tâu Thượng đế, theo hạ thần thì thượng đế không cần đòi lại trí khôn của con người. làm như thế không khỏi mang tiếng là trời nhỏ nhen. Điều mà thượng đế nên làm là hạn chế trí khôn của con người.”

-“Bằng cách nào”?

-“Chỉ có tình yêu-Không có gì làm con người lú lẫn đi như trong tình yêu. Trời chỉ cần phái một vị thần mang vòng dây xuống trần, cứ đôi trai gái nào ở gần nhau thì quăng cho một vòng. Người nào càng thông minh thì cần quăng thêm cho nhiều vòng. Con người chỉ luẩn quẩn trong những vòng ấy mà chẳng bao giờ nghĩ tới chuyện lên quấy nhiễu nhà trời nữa”.

Trời khen “Thật là diệu kế”!, bèn truyền cho ông tiên già mang những chiếc vòng của trời xuống trần gian.

Từ ngày bị ông tiên già khoác vào người mình những vòng dây tình ái, con người chỉ luẩn quẩn với nhau, không còn nghĩ tới chuyện đánh nhau với trời nữa. Ông tiên già ấy được gọi là ông “Tơ” .

Sự tích Ngô Cương đốn cây

Mỗi khi ngẩng đầu nhìn trăng vào những đêm trăng tròn, chúng ta thường thấy có một cái bóng màu đen giống như một người nào đó đang đứng dưới gốc cây. Tương truyền vào đời Đường (Trung Quốc) có một truyền thuyết như thế này: trên mặt trăng có một cây quế cao đến 500 trượng. Vào thời đó, có một người họ Ngô tên Cương vốn là một tiều phu, anh ta muốn trở thành tiên nhưng lại không chịu học hành. Ngọc Hoàng rất tức giận, bảo anh ta rằng: “Nếu đốn ngã được cây quế ở mặt trăng thì hãy nghĩ đến chuyện đắc đạo thành tiên”. Thế là Ngô Cương bắt tay vào việc đốn ngã cây quế thần kỳ. Nhưng cứ mỗi nhát chém vào thân cây là vết chém lại liền ngay. Ngày qua ngày, ước mơ đắc đạo thành tiên của Ngô Cương vẫn chưa thực hiện được. Cái bóng mà chúng ta thấy nơi mặt trăng chính là hình ảnh Ngô Cương vẫn đang miệt mài đốn cây với hy vọng một ngày nào đó sẽ thực hiện được nguyện vọng của mình.

Лунният фестивал 

Moon Cake Festival-ът или Mid-Autumn Festival-ът (на кит.Chung Chiu) е третият и последен за годината традиционен празник за Китай. Отбелязва се на 15-я ден от 8-я лунарен месец, някъде около деня на есенното равноденствие (между втората седмица на септември и втората седмица на октомври по Грегорианския календар). За 2011-та това е 12 септември (понеделник).

На този ден лунната орбита е в най-нисък ъгъл спрямо хоризонта, което кара луната да изглежда необичайно ярка и голяма в сравнение с всеки друг ден от годината. Според лунния календар, това е точно средата на есента (която започва от седмия и завършва в деветия месец).

Празникът е донякъде сходен с американския Ден на благодарността и с Жътвените празници, които се наблюдават и в много други западни култури. Някога се е асоциирал със завършване на жътвата, т.к. всички плодове, зеленчуци и зърно обикновено са били вече прибрани по това време и храната е била в голямо изобилие. За мнозина обаче той е свързан най-вече с философския начин на светоусещане на древните китайци. Например съюзът на човешкия дух и природата с цел да се постигне върховна хармония е фундаментален канон за таоизма, при който съзерцателността на природата се е превърнал в начин на живот.

За днешните поколения Лунният фестивал е най-вече повод за събиране на роднините от близо и далеч, т.к. кръгът като фигура (асоцииран с формата на луната и формата на традиционните Moon Cakes, съпътстващи празника) за китайците е символ на семейното единение и задружие.

Празнуване на есенното равноденствие

Mid-Autumn Festival – фестивалът в средата на есента, наречен още Лунен празник е празник на жътвата, който се празнува от китайците от около 3000 години. На този празник се почита Луната. Празнува се по време на есенното равноденствие и по-точно тогава, когато Луната е най-пълна. Нарича се още Празник на Лунната пита, защото по традиция тогава се приготвят кръгли питки или сладки кексчета, които представляват Луната.

Другото му име е Празник на фенерите. На този празник хората носят запалени фенери или ги окачват по домовете си.

Това е официален празник и фермерите празнуват края на сезона на лятната жътва. На този ден семействата се събират, за да почетат ярката луна и да похапнат от лунните питки. По улиците танцуват огнени дракони.

Жътвената Луна е тази, която е най-пълна и възможно най-близо до времето на есенното равноденствие. Жътвената луна се появява на небето по-рано от обикновено – веднага след залеза на слънцето и това е давало възможност на феремрите да работят по-дълго, за да приберат реколтата си. 

Жената на луната

В дълбока древност на небето се появили наведнъж 10 слънца, които съсипали всички реколти и въвели хората в нечувана бедност. Затова тогавашният император изпратил своя генерал и велик местен герой Хоу-Ии да отърве хората от голямото зло. 
Хоу-Ии се възкачил на върха на планината Кунлун и с нечовешка сила на стрелец не само свалил от небето цели 9 от десетте слънца едно по едно, ами на всичкото отгоре заповядал на единственото останало тяло да изгрява и залязва в точно определеното му за целта време. 
След този изключителен подвиг Хоу-Ии се покрил с още толкова много слава, че отвсякъде се стичали хора да учат от него на бойни изкуства и добродетели. Пен Мен бил един от най-ревностните сред тях.

А Хоу-Ии имал безкрайно красива и чистосърдечна съпруга на име Чан-Е (или Чан-О). Един ден, докато слизал от планината Кунлун, се натъкнал на Небесната императрица Уан Му, която, в отговор на молбите на простосмъртните да съхрани завинаги Хоу-Ии като защитник на хората и императора, му предложила в дар еликсир (в някои легенди – хапче), който дарява безсмъртие и прави от всеки небесно създание. Героят обаче не желаел да се разделя с любимата, затова просто й дал елексира/хапчето за съхранение. Тя го сложила в кутията си с бижута, но Пен Мен се навъртал наблизо и я видял.
Скоро след това, докато генералът бил с учениците си на стрелба, Пен Мен нахлул с меч в ръка и принудил Чан-Е да му предаде небесния дар. Тя се опасила, че насилникът е прекалено недостоен да властва над хората като безсмъртен, затова като 1 истинска жена, която от всяко събитие прави история с неочакван край, извадила и светкавично го погълнала еликсира/хапчето. Тялото й се обвило със сияние и литнало през прозореца към райските висини, а Пен Мен избягал.

Когато благоверният се прибрал, веднагически изпаднал в непреодолима горест. Погледнал нощното небе с молба и забелязал, че пълната луна е необикновено ярка, а на силуета й се очертава сянка, приличаща на жена му. Втурнал се подир луната, но когато я доближавал, тя се отдръпвала; и така той никога не я достигнал. 
С какво се занимавала в това време любимата – достигайки до луната, там тя намерила необикновено дърво и 1 приятелски настроен заек. И понеже въздухът на луната е студен, Чан-Е се закашляла и изплюла хапчето. След което решила да раздроби чудодейния обект на парченца и да го разпръсне върху земята, за да дари всеки с частица безсмъртие, но задачата поверила всъщност на заека. Тя самата се заела с нещо далеч по-интригуващо за жена – да си построи сребърен дворец на Луната и да заживее завинаги в него, танцувайки вътре.
В същото време съпругът й, покрусен от тъга, всяка вечер в градината аранжирал ритуално маса със сладкиши и плодове, които Чан-Е много обичала. Хората, щом научили за възнесението на неговата любима, също започнали да подреждат на открито маси с ястия и да отправят чистосърдечни мисли за щастие и мир на Чан-Е. 

Оттогава насам е и обичаят китайците да консумират храна на открито, отпращайки най-чисти мисли към отсъстващите най-близки.
А заекът от легендата е т.нар. Нефритен заек, който, заедно с фигурата на Чан-Е, много често може да се види и върху самите Лунни кейкове или техните кутии/опаковки.

Лунните кейкове

Най-емблематични за Лунния празник се явяват т.нар. Moon Cakes. Те са кръгли, приблизително 1 човешка шепа всеки, и по вкус и консистенция донякъде наподобяват плодовите кейкове от западните култури. Представляват скъпи, висококалорични сладкиши с най-разнообразен пълнеж – най-често лотусови и сусамени семена, микс от червени и черни бобови зърна, всякакви ядки, дори плодове, мед, чесън, семето на люти чушки и китайски наденички. Най-ценени са тези със солен яйчен жълтък по средата, съответстващ на формата на луната. По-разточителните варианти включват и 4 жълтъка, т.к. това отговаря на фазите на небесното тяло, а и самите кейкове се консумират чрез разрязване по диагонала на 4 парчета.

Лунните кейкове като произход се свързват с 1 много аткрактивна легенда. По времето на династията Иуан (A.D. 1280-1368) Китай провокирал бунт, за да се освободи от поробителя си Монголия. В навечерието на Лунния празник лидерите от предшестващата династията Сън (A.D. 960-1280), Чу Иуен-чан и неговият старши-заместник Лиу По-уен, изготвили хитър план как да координират действията отвън и отвътре на град под монголско владичество, обсаден от бунтовниците. Съгласно сценария, Лиу се предрешил като таоистки свещеник и влязъл в обсадения град, раздавайки на хората Лунни кейкове със скрити в тях съобщения по предстоящите военни маневри. Навръх Лунния празник жителите отворили кейковете и открили насоките по това как координирано да се подпомогнат атаката отвън, с което китайците успешно превзели града и отхвърлили чуждото управление. 

Старецът на Луната

Съществува старата китайска поговорка, че женитбите се правят на небето, а пък се подготвят на луната. Човекът, който се занимава с второто, живее именно на луната и се нарича Иуе Лао Йе. Този старец, както казват, пази списък с всички имена на новородени деца (а според друга легенда – записва имената на двойките, които са били наречени от съдбата да се заженят и на които е предначертан щастлив дълголетен живот). 

Старият мъж е небесно създание, който познава бъдещия партньор на всеки и на чиито решения, вписани в книгата, никой земен не може да противостои. Той е една от основните причини в китайската митология за преклонение пред луната и особено през времето на Лунния фестивал, затова всички, включително и децата, се възскачват на високи открити места и съзерцават луната с надежда, че старецът ще изпълни най-нежните им желания.

В Хонг Конг подобни дейности се съпътстват от запалването на хиляди специално направени червени пластмасови фенери, изрисувани в традиционни мотиви и с горяща свещ вътре. Формата им също е традиционна и може да изобразява заек, златна рибка, зарче за игра, пеперуда, омар, звездоподобен плод и др. В китайската митология пеперудата се свързва с дълголетие, омарът пък символизира веселие. Звездоподобният плод е сезонен за есента, а зарът за игра е древен символ на императора – персонификация на сила, кураж, мъдрост и, най-вече, сила. 
В днешни дни обаче могат да се видят и далеч по-модернистични вариации – като напр. фенери с формата на реактивен снаряд, самолет, ракета, кораб или танк.  

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Free counters!

%d bloggers like this: