Chuyện về Blaga Dimitrova


Còn nhớ ngày đoàn mình vừa đến Sofia được xếp ở khu Lozenets cùng 1 blok với các anh chị trường Y, một hôm có mấy cậu bé người Bun đến vận động mọi người ký tên vào một kiến nghị, vì vừa mới sang không hiểu chuyện gì nên chẳng ai dám ký. Trong nhóm có 1 cậu bé rất giống người châu Á, đến khi làm quen hóa ra đó lại là 1 cô bé Việt Nam, đó chính là Hà, con nuôi bà Blaga Đimitrova. Cô bé chỉ biết nói tiếng Bun, tiếng Việt thì biết rất ít. Câu chuyện bà Blaga nhận nuôi Hà thì hầu như ai cũng biết, nhưng những chuyện về sau này thì từ lúc về nước tôi không biết nhiều lắm. Cách đây ít lâu tôi đọc được 2 bài báo viết về nhà thơ này thấy có nhiều thông tin nên đưa lên đây để mọi người cùng đọc.

Một bài là của Trần Đăng Khoa http://vn-today.com/thuvien/doc-truyen-nguoi-thuong-gap-2-4500-trang-16

Còn 1 bài đăng trên trang web của Hội nhà văn VN nhưng đường dẫn link bị trục trặc thế nào đó nên tôi copy lên đây (có chèn thêm ít ảnh minh họa của các báo Bun) cho mọi người cùng xem để thêm chút thông tin về một nhà văn Bungari rất quen thuộc.

Blaga Đimitrova – nữ sỹ Bungari, những điều còn ít biết

Sự nghiệp văn học

Blaga Đimitrova sinh năm 1922 trong một gia đình trí thức ở một thị trấn nhỏ vùng tây-bắc Bungari. Trong những năm trước chiến tranh thế giới thứ hai, rời Trường Nữ trung học  Sophia I, bà học và tốt nghiệp khoa Ngữ Văn trường Tổng hợp Quốc gia Sophia. Trong thời kỳ Bungari bị phát xít Đức chiếm đóng (1941-1944),  Blaga Đimitrova tham gia những hoạt động kháng chiến trong Đoàn thanh niên cách mạng (RMS). Sau chiến tranh, năm 1951, Blaga Đimitrova bảo vệ thành công luận án tiến sỹ với đề tài “Maiakovski và thi ca Bungari” tại Moscow.

Những bài thơ đầu tiên mà Blaga Đimitrova viết đã được công bố năm 1938, khi tác giả còn là một nữ sinh trung học. Những sáng tác đầu đời của Blaga Đimitrova được giới phê bình Bungari tiếp nhận như dấu hiệu về một tài năng thi ca xuất chúng. Từ những năm 50, Blaga Đimitrova làm công tác biên tập tại nhiều tờ báo, nhà xuất bản, đồng thời tham gia dịch sách và viết văn, làm thơ. Những tác phẩm của bà thời đó được đánh giá cao trên văn đàn Bungari. Sức làm việc sáng tạo thi văn  của cây bút Blaga Đimitrova rất dồi dào. Có nhiều tiểu thuyết và tập thơ của Blaga Đimitrova gây tiếng vang lớn ở quê hương bà cũng như nước ngoài. Những sáng tác tiêu biểu nhất của Blaga Đimitrova có thể kể đến là: “Tuyết đổ”, “Cuộc hành trình tới chính mình”, “Ngày phán xử cuối cùng”, “Vây giữa tình yêu” … Vì những công lao to lớn với nền văn học nước nhà, Blaga Đimitrova đã được tặng thưởng nhiều danh hiệu và phần thường cao quý của Bungari, trong có cả Huân chương “Stara Planina” hạng I, phần thưởng sáng giá nhất ở Bungari giành cho những cống hiến về văn học nghệ thuật. Ngoài ra, bà còn được nhiều giải thưởng của Ba Lan, Thuỵ Điển, Đức về những tác phẩm dịch thuật giá trị. Tuy nhiên, ngay từ thưở ấy, một số tư duy của nữ thi sĩ đã không thực phù hợp với dòng tư tưởng chính thống Bungari đương thời.

Năm 1967, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam bước vào giai đoạn quyết liệt nhất, Blaga Đimitrova đã xung phong sang Việt Nam công tác, làm phóng viên đến những điểm nóng để phản ánh cuộc sống chiến đấu và lao động của nhân dân Việt Nam. Trong Hồi ký công bố năm 1996 của cố Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Bungari Todor Zhivkov, ghi chi tiết rằng Blaga Đimitrova có được chuyến đi này và sự đón tiếp nồng hậu ở Việt Nam, là nhờ ở sự can thiệp trực tiếp của vị lãnh đạo cao cấp. Đến Việt Nam, Blaga Đimitrova đã xông xáo đi nhiều nơi, được tận mắt chứng kiến cuộc sống chiến đấu và lao động gian khổ nhưng hào hùng của nhân dân ta.

Tháng 11 năm 1967, từ Việt Nam trở về, Blaga Đimitrova mang theo cô bé Hoàng Thu Hà 6 tuổi, mà bà nhận làm con nuôi từ một gia đình công nhân nghèo ở Hải Phòng. Câu chuyện đi tìm và vượt qua bao rào cản thủ tục để xin mang cô bé Việt Nam này về Bungari đã được nữ văn sĩ kể lại trong cuốn “Ngày phán xử cuối cùng”.

Khi ấy và nhiều năm sau đó, cô bé Thu Hà ở Sophia từng được coi là một biểu tượng của tình hữu nghị Bun-Việt.

Những tài liệu thu thập trong chuyến công tác năm 1967 ở Việt Nam được Blaga Đimitrova sử dụng để viết cuốn “Ngày phán xử cuối cùng”, “Bầu trời dưới mặt đất” và tập thơ “Vây giữa tình yêu”. Các tác phẩm này cũng như nhiều bài thơ khác của bà đã được dịch ra tiếng Việt và khiến cho nhiều bạn đọc Việt Nam thời ấy rất khen ngợi, mê say. Cố thi sĩ Xuân Diệu từng kể rằng, đọc Blaga, thậm chí ông “cảm thấy sợ”. “Chị ấy bay bằng tên lửa, còn mình thì đi bằng hai chân què của con vịt bầu. … Khi phụ nữ có trí tuệ ngang đàn ông thì họ hơn đứt cánh đàn ông chúng ta cái tình cảm” . Tác giả Trần Đăng Khoa nhận xét, “Blaga đã đạt đến độ chín nhất của tài năng mình. Đọc bà, ta có cái thú của một người du ngoạn. Ta được ngắm lại ta bằng con mắt của một người ngoại quốc…” . Sau chuyến đi Việt Nam đầu tiên năm 1967, Blaga Đimitrova còn đến nước ta thêm 5 lần nữa. Bà có mối quan hệ bè bạn thân thiết với những nhà văn, nhà nghiên cứu nổi tiếng ở nước ta như Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Hà Minh Đức, Chế Lan Viên ….

Sự nghiệp chính trị

Năm 1988, trong cơn khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội ở Bungari và dưới ảnh hưởng của cuộc Perestroika – Cải tổ ở Liên Xô, cặp vợ chồng Blaga Đimitrova và Iordan Vasilev đã là những người sáng lập các tổ chức có xu hướng đối lập như Uỷ ban bảo vệ môi trường thành phố Ruse, Câu lạc bộ ủng hộ Công khai và Cải tổ, do vậy họ trở thành đối tượng theo dõi của các cơ quan an ninh Bungari. Mùa Xuân năm 1989, Blaga Đimitrova là một trong những trí thức phái đối lập được F. Miterant mời dự bữa điểm tâm nổi tiếng khi Tổng thống Pháp tới thăm Bungari. Sau khi Tổng Bí thư Đảng Cộng sản T. Zhivkov từ chức (10-11-1989), Blaga Đimitrova nổi lên như một thần tượng trong hàng ngũ Liên minh các lực lượng dân chủ – đối trọng chủ yếu của Đảng Cộng sản và sau đó là Đảng XHCN Bungari. Năm 1991, Đimitrova trở thành nghị sỹ đại diện Liên minh các lực lượng dân chủ tại Quốc hội Bungari. Cuối năm 1991, bà được Tổng thống đương nhiệm Zhelio Zhelev mời tham gia liên danh tranh cử Tổng thống và Phó Tổng thống trong cuộc bầu cử tổng thống lần II của nước Cộng hoà. Chính trong những ngày này, đã xảy ra một sự cố ngăn cản con đường hoạt động chính trị của Blaga Đimitrova. Nhóm người không rõ tính danh đã cho in lại và đem phân phát rộng rãi một tuyển thơ của Blaga Đimitrova, nội dung ca ngợi giai cấp vô sản và Georgi Đimitrov, người anh hùng Bungari chống phát-xít tại toà án Lép-zích năm 1933. Vụ việc này trở thành một xì-căng-đan trên chính trường Bungari vào những ngày đầu năm 1992. Đối thủ xoáy vào chi tiết “thần tượng của Liên minh các lực lượng dân chủ” chống cộng nhưng lại là một người cộng sản (!). Vụ việc rồi cũng qua đi. Liên danh Zhelev – Đimitrova thắng cử, Blaga Đimitrova trở thành người phụ nữ đầu tiên trong lịch sử Bungari ở ngôi vị Phó Tổng thống. Tuy nhiên, đường công danh chính trị của nữ thi sĩ cũng chẳng dài lâu. Ngày 11-7-1993 Blaga Đimitrova tuyên bố từ chức vì bất đồng với Tổng thống Zhelio Zhelev. Cho đến nay vẫn chưa rõ điều gì đã xảy ra giữa nguyên thủ Z. Zhelev và người Phó của ông. Một số nguồn tin cho biết, ngày 9-11-1993 Phó Tổng thống Đimitrova giận dữ bước vào phòng làm việc của Tổng thống Zhelev và 2 ngày sau đó, bà tuyên bố từ chức. Những người đặc biệt gần gụi với Tổng thống Zhelev cho biết thêm, Đimitrova đã buông những lời nguyền độc địa với Tổng thống và gia đình ông khi bước ra khỏi văn phòng Tổng thống, để rồi từ đó không bao giờ đặt chân đến dinh Tổng thống nữa. Báo chí Bungari bình phẩm rằng lẽ ra Zhelev đã có thể bỏ qua những lời nguyền của Đimitrova, nếu như gia đình ông Tổng thống không bị những đòn giáng quá tàn nhẫn của số phận. Trước đó ít lâu, ái nữ của Tổng thống Bungari, cô Iordanka, đã tự vẫn vì những lý do bí ẩn. Lời nguyền của Đimatrova làm Zhelev và gia đình ông bị tổn thuơng sâu sắc. Vào cuối những năm 90, khi Tổng thống Pháp Miterant một lần nữa sang thăm Bungari, tại bữa tiệc chiêu đãi cao cấp, hai người bạn cũ đều hiện diện nhưng mỗi người một đầu bàn, không nhìn mặt nhau và không một lời chào hỏi . Nguồn tin thân cận với Blaga Đimitrova cho biết, lời nguyền mà bà ném ra với Zhelev cũng là nỗi dằn vặt của chính bà. Năm 1999, khi Zhelev đã là cựu Tổng thống, có lần Blaga Đimitrova gọi điện tới nhà ông này, định xin lỗi và rút lại những lời nguyền của mình năm trước. Thoáng nghe giọng Đimitrova, phu nhân cựu Tổng thống đã dập máy, và mối hận giữa họ vẫn còn đó không cởi bỏ.
Hoàn toàn từ giã chính trường từ năm 1999, dường như Blaga Đimitrova đã thất vọng thật nhiều về con đường này. Với câu hỏi “Bà đánh giá thế nào về tình hình chính trị Bungari?”, bà cựu Phó Tổng thống đáp: “Đó là những điệu nhảy của những hình nhân, nhưng không phải để xua đuổi tà ma, mà để gọi những hồn ma độc địa, dối trá và căm thù tới” . Và ở câu nhận xét về chính trị như thế, người ta lại thấy thấp thoáng hình ảnh và phong cách  người nữ thi sĩ .

Tình yêu và cuộc sống gia đình

B. Đimitrova lấy chồng khi bà 45 tuổi. Chồng bà, Iordan Vasilev là Phó giáo sư, nhà phê bình nghệ thuật, nguyên là Tổng biên tập báo Demokratsia, cơ quan ngôn luận của Liên minh các lực lượng dân chủ. Trước khi đến với nữ thi sĩ nổi tiếng, ông  Iordan Vasilev đã từng qua một cuộc hôn nhân và có một con trai.

Họ quen nhau năm 1966, trong một tình huống không bình thường – ở đám tang một nhà phê bình nghệ thuật trẻ tuổi. Trước nấm mồ vừa đắp của người đồng nghiệp xấu số, Đimitrova đọc một bài thơ vĩnh biệt, còn Iordan Vasilev đứng trong đám người im lặng. Rồi hai người làm quen, cùng đàm luận về nghệ thuật. Bà mời ông đến chơi nhà.

Bức ảnh đầu tiên cùng người chồng tương lai, Ruse 2/4/1967.

Vài tháng sau, họ có dịp đi công tác ở thành phố Ruse. Tại đó, I. Vasilev đăng đàn giới thiệu về sự nghiệp sáng tác của B. Đimitrova. Suốt chặng đường đi và về, hai người chỉ nói với nhau về âm nhạc Betthoven. Tới sân ga Sophia, đúng vào lúc phải chia tay, thì quyết định chung sống cùng nhau bỗng nhiên xuất hiện như ánh chớp lóe ở cả hai người. I. Vasilev kể : “Bạn có biết thời gian chúng tôi suy nghĩ để quyết định về sống cùng nhau kéo dài bao lâu không? Cả hai chúng tôi chỉ cần 3 hay 5 giây gì đó. Tại sân ga Sophia, khi chúng tôi trở về từ Ruse. Lúc ra đi chúng tôi gọi nhau bằng “anh – chị”, còn trên đường đi, trong toa restaurant đã chuyển sang “anh – em”. Nhưng lúc đó là lúc chia tay. Vào đúng cái thời điểm tôi nâng bàn tay Blaga lên môi để hôn tạm biệt thì cái quyết định ấy tự nó đến”. Một năm sau đó, khi nhà thơ nữ trở về từ miền đất lửa Việt Nam, hai người tổ chức lễ cưới. Hồi đó, Blaga 45 tuổi, còn Vasilev mới 32.

Theo lời Vasilev, lúc đầu hai người cũng cảm thấy bất tiện vì sự chênh lệch tuổi tác và từng có ý định chỉ sống thử cùng nhau một thời gian xem sao . Tuy nhiên, nếu nhìn diện mạo thì khó thấy khoảng cách khác biệt 13 năm tuổi của hai ông bà. Trong 35 năm chung sống, nhìn Blaga Đimitrova luôn trẻ hơn chồng, ngoại trừ 5-6 năm cuối đời, khi bà đã lâm trọng bệnh và cột sống không còn chịu nổi sức nặng cơ thể.

Những người quen thân với cặp vợ chồng Đimitrova-Vasilev kể rằng, ngay từ hơn 30 năm trước, khi bà phải vào bệnh viện giải phẫu khối u, I. Vasilev đã hết lòng quan tâm chăm sóc vợ. Hơn tháng ròng ông túc trực bên giường bệnh, cần mẫn gánh cả nhiệm vụ của y tá và hộ lý. Ông tự tiêm thuốc, tự thay băng cho bà mặc dù trước đó ông vốn là người rất sợ máu. Có những năm tháng, khi mà bởi lý do khác biệt tư tưởng, nhiều tác phẩm của Blaga Đimitrova hoặc không được công bố, hoặc bị thu hồi, thì bên bà luôn có người bạn chí thiết an ủi nâng đỡ tinh thần, đó chính là ông chồng I. Vasilev.  Là Tổng biên tập đầu tiên của báo Demokratsia, sau khi Blaga Đimitrova được bầu làm Phó Tổng thống năm 1992, Vasilev xin từ chức và chỉ làm công việc phê bình nghệ thuật. Sự lìa xa vĩnh viễn của Đimitrova có lẽ đã là cú sốc mạnh với người đàn ông này. Báo chí Bungari viết, thời gian gần đây, dường như mong nguôi quên nỗi cô đơn khi đã mất bạn đời, I. Vasilev thường tìm tới men say trong chất cồn.

con gái nuôi người Việt

Блага Димитрова с осиновената си от Виетнам дъщеричка Ха, 1969 г.

Блага Димитрова с осиновената си от Виетнам дъщеричка Ха, 1969 г.

B. Đimitrova không sinh con. Toàn bộ tình mẫu tử được bà dồn cho cô con gái nuôi Hoàng Thu Hà, mà bà đăng ký hộ khẩu dưới cái tên Hanna Hoàng Đimitrova (Ханна Хоанг Димитрова) theo họ của bà.

Tới Bungari vào cuối năm 1967 khi vừa 6 tuổi, cô bé Hà lúc ấy chưa biết đọc chữ. Nhiều năm sau đó, mỗi khi nhận được thư của gia đình Hà từ Việt Nam, B. Đimitrova hay dẫn cô con gái nuôi tới khu ký túc xá trường Tổng hợp có các sinh viên Việt Nam, để nhờ họ đọc thư cho bé Hà nghe. Hưởng sự giáo dưỡng của một gia đình trí thức vào bậc nhất ở Sophia, sau khi tốt nghiệp phổ thông, Hà theo học môn piano tại Học viện Âm nhạc ở Sophia và sau đó ở Na Uy.

Блага Димитрова с дъщеря си виетнамчето Ха и съпруга си Йордан Василев, 1969 г.

Блага Димитрова с дъщеря си виетнамчето Ха и съпруга си Йордан Василев, 1969 г.

Với sự định hướng của B. Đimitrova (bà là một người chơi piano không kém bất cứ một nghệ sỹ piano chuyên nghiệp tài năng nào), lúc đầu cô con nuôi theo chuyên ngành cổ điển, sau đó lại chuyển sang nhạc nhẹ. Nhưng có lẽ cây đàn piano sang trọng không phù hợp với khả năng của Hà. Báo chí Bungari cho biết, gần đây cô sang Paris theo học thanh nhạc.
Như một nhà phê bình người Bungari viết chưa lâu, Hà là một “sản phẩm của sự giao lưu văn hoá Âu – Á” .

Ngay từ khi mới chung sống cùng Đimitrova, Vasilev đã dặn cô bé con nuôi của vợ: “Bố mẹ cháu vẫn còn sống, cháu chỉ cần gọi chúng ta là cô, chú”. Có lẽ bởi vậy mà trong suốt những năm chung một mái nhà, Hoàng Thu Hà không hề gọi Đimitrova là “mẹ”, cô thường gọi vợ chồng bà là “cô” và “chú”. Có điều, mặc dù đã được Blaga Đimitrova nuôi dưỡng và chăm sóc ở Bungari từ năm 1967, cho tới nay cô gái gốc Việt này vẫn không có giấy tờ gì chứng nhận chính thức về nguồn gốc con nuôi của gia đình. Riêng về quốc tịch, thì mãi tới năm 1990, sau những biến động chính trị ở Bungari, nhờ sự quen biết cá nhân với Tổng thống đương nhiệm Zhelev, mà chỉ 4 ngày sau khi nộp đơn xin, Hà đã được nhận quốc tịch Bungari. Và từ đó, cô chính thức mang tên Hanna Hoàng Đimitrova.

Tuy nhiên, những bạn đọc thuở xưa mê say cuốn “Ngày phán xử cuối cùng” hẳn không ai chờ đợi rằng, câu chuyện thật lãng mạn và cảm động về nữ thi sĩ Bungari băng qua lửa đạn mang theo về xứ sở hoa hồng một cô bé con nuôi người Việt, lại có cái kết cục buồn. Sẽ chẳng có gì nhiều để nói, nếu như sau khi B. Đimitrova qua đời không xảy ra những chuyện chẳng đẹp đẽ  trong quan hệ giữa Hanna Hoàng Đimitrova và ông chồng của bà mẹ nuôi quá cố.

Ханна си изнесе багажа от жилището, прогонена от пастрока си.

Tháng 11 năm 2005, sau khi B. Đimitrova mất hơn 2 năm, đột nhiên I. Vasilev đuổi Hà ra khỏi căn hộ, nơi cô đã sống cùng vợ chồng nữ thi sỹ suốt trên 3 chục năm. Cảnh sát và công tố viên địa phương vào cuộc, và quyết định rằng cô gái có quyền được trở lại nơi cư ngụ duy nhất của cô.

Ханна Хоанг изнася багажа си от апартамента на ул. Паренсов 33 през септември 2003.

Một thời gian sau, hẳn là quan hệ giữa những nhân vật trong căn hộ này vẫn căng thẳng, người ta thấy Hanna Hoàng Đimitrova bỏ sang Pháp, dưới danh nghĩa làm thực tập sinh thanh nhạc.

Vụ việc không dừng lại đó. Xì-căng-đan trong gia đình cố Phó Tổng thống Bungari lên đến đỉnh điểm vào đầu năm 2007, khi Hanna Hoàng Đimitrova đột nhiên tung ra cuốn tự truyện “Dì ghẻ là ngôi sao của tôi”, do nhà xuất bản Siela ấn hành.

Cuốn sách thuật lại những ký ức rời rạc ít ỏi còn lại trong cô gái này về quê hương Việt với những cảnh bom đạn và khói lửa ở Hải Phòng, về cuộc gặp gỡ đầu tiên ở trại trẻ nơi sơ tán với bà nhà thơ người nước ngoài, về những năm tháng sống cùng vợ chồng bà Đimitrova … Đáng chú ý là, những câu chữ viết về I. Vasilev đều tràn đầy thù hận và mỉa mai. Hanna Hoàng Đimitrova miêu tả Vasilev như một kẻ ti tiện, giả dối và ác độc. Theo những lời cô kể, Vasilev thường xuyên đánh đập cô tàn nhẫn, thậm chí còn lạm dụng con nuôi của vợ từ khi cô còn nhỏ. Cô cho rằng sinh thời mẹ nuôi B. Đimitrova cũng biết những chuyện này sau lần đọc được nhật ký của Hà, vì thế bà từng có ý định ly dị với Vasilev.

Với B. Đimitrova, Hanna Hoàng có những tình cảm mâu thuẫn. Một mặt cô yêu quý và chịu ơn bà vì sự chăm lo, giáo dưỡng suốt 35 năm. Mặt khác cô gái trách móc bà mẹ nuôi thi sĩ quá cố, vì đã bứt cô khỏi gia đình Việt Nam ruột thịt nguồn cội của cô, và đã không đủ thời gian hay dũng khí để bảo vệ cô con nuôi trước người chồng vũ phu, đê tiện.

Tự truyện của Hanna Hoàng Đimitrova đã là một cơn choáng sốc trên các phương tiện truyền thông Bungari hồi đầu năm 2007. Chỉ trong tuần phát hành đầu tiên, toàn bộ số sách in ra đã bán hết veo. Dư luận xã hội chia làm hai phía. Một bên không tin vào những gì Hanna Hoàng Đimitrova  thuật lại, người ta lên án cô như một kẻ vô ơn. Một số người khác tỏ ra đồng cảm với cô, rằng họ cũng biết những thói xấu của Vasilev . Riêng Vasilev, khi được báo giới hỏi về những điều trong cuốn sách mới, ông này thừa nhận có những lần cáu giận đã đánh cô con gái nuôi của vợ, nhưng hoàn toàn chối bỏ chi tiết lạm dụng . Ông còn cho rằng ngoài mục đích thương mại có lợi cho Hanna, vì sách giật gân và bán chạy, ấn phẩm này còn là đòn chính trị của một số người nhằm vào ông, bởi ông đã dám phê phán cựu Thủ tướng Ivan Kostov.
Thật-giả, phải–trái trong vụ xì-căng-đan này, chỉ người trong cuộc mới biết, hoặc là mọi sự chỉ rõ khi tất cả đứng trước “ngày phán xử cuối cùng”. Bởi cũng là tự truyện, nên “Dì ghẻ là ngôi sao của tôi” có gì đó khiến độc giả nhớ đến cuốn hồi ký của một tác giả nữ cũng còn trẻ, đã từng làm xao động văn đàn Việt Nam một hồi gần đây.
Riêng với trường hợp cuốn sách của Hanna Hoàng Đimitrova, thật đáng buồn. Bởi không chỉ là khuấy động và xúc phạm hình ảnh của một nữ thi sĩ tài hoa Bungari từng được bạn đọc Việt Nam yêu mến nay đã về cõi vĩnh hằng, mà còn là những bôi xóa lên biểu tượng một thời của tình hữu nghị Bun-Việt.

Trung Dũng ( 5/12/2009)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Free counters!

%d bloggers like this: